CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG KỸ THUẬT TẠI BÌNH THUẬN Khi đánh giá một dự án đầu tư của bất kỳ một đơn vị nào cũng như tổ chức quản lý thực hiện dự án nào, trước hết chúng ta cần hiểu rõ những khái niệm cơ bản về dự án đầu tư cũng như phương pháp quản lý dự án. Trên cơ sở những khái niệm đầu tiên này, mỗi dự án lại có những tính chất, đặc điểm riêng mà để phân tích hiệu quả của mỗi dự án đó chúng ta phải dùng những khái niệm cơ bản làm thước đo để đánh giá bản chất của vấn đề. Trước hết ta hãy xem bản chất của đầu tư, dự án đầu tư và quản lý dự án đầu tư. Trung tâm Phát triển quỹ đất tỉnh Bình Thuận đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động, có chức năng tổ chức thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; tạo quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và ổn định thị trường bất động sản; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; phát triển các khu tái định cư; đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trên đất; đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu dự án có sử dụng đất; quản lý quỹ đất đã thu hồi, đã nhận chuyển nhượng, đã tạo lập, phát triển và thực hiện dịch vụ trong lĩnh vực bồi thường, giải phóng mặt bằng.1 Khái niệm cơ bản về đầu tư Theo Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2014 [1] của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”.
Theo luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/01/2014 [2]của Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: ”đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt đông đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luât có liên quan”. Ngân hàng thế giới cho rằng ” Đầu tư là sự bỏ vốn trong môt thời gian dài vào một lĩnh vực nhất định nào đó nhằm thu lợi nhuận cho nhà đầu tư và thu lợi ích kinh tế xã 5 hội cho đất nước được đầu tư”.Từ các định nghĩa trên, hoạt động đầu tư có những đặc điểm chính sau: Trước hết phải có vốn, vốn bằng tiền hay bằng các loại tài sản khác hay bằng bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ,. vốn có thể là của nhà nước, tư nhân, cổ phần, vay,. Thời gian thực hiện tương đối dài, thường là hai năm trở lên.
Các hoạt động ngắn hạn dưới một năm tài chính thường không gọi là đầu tư. Do thời gian dài nên người đầu tư và thẩm định đầu tư cần có tầm nhìn xa. Lợi ích của đầu tư mang lại biểu hiện trên hai mặt là lợi nhuận là lợi ích tài chính và lợi ích kinh tế xã hội. Nhà đầu tư tư nhân muốn đầu tư sinh lợi nhuận, còn nhà nước đầu tư thì muốn có hoặc lợi nhuận hoặc lợi ích.
Các hình thức đầu tư Theo luật đầu tư số 67/2014/QH13 ngày 26/01/2014 [2] sử dụng khái niệm “Đầu tư kinh doanh thay thế cho Đầu tư trực tiếp và Đầu tư gián tiếp Trong đó: Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam, bao gồm: Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế thành lập theo Luật doanh nghiệp; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã thành lập theo Luật hợp tác xã; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập trước khi Luật này có hiệu lực; Hộ kinh doanh, cá nhân; Tổ chức, cá nhân nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài thường trú ở Việt Nam; Các tổ chức khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. Có thể nói đầu tư có đặc điểm chính là vốn. Vốn ở đây có thể được biểu hiện bằng tiền, chứng khoán, cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu hay các tài sản cố định như công trình, nhà xưởng, đường sá; tài sản lưu động như máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông 6 hoặc các giá trị quyền sở hữu công nghiệp, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển,. cũng như nhiều nguồn tài nguyên khác.
(Hiện nay tỉnh Bình Thuận có dự án điện năng lượng mặt trời, điện gió. do Tập đoàn Điện lực làm chủ đầu tư thuê diện tích mặt nước hồ Thủy điện Đa Mi….) Hoạt động đầu tư được hiểu như một quá trình đầu tư hay một tập hợp các hoạt động thực tiễn để thực hiện đầu tư nhằm đạt được lợi ích tài chính, kinh tế và xã hội. Theo Luật Đầu tư : Hoạt động đầu tư là hoạt động của nhà đầu tư trong quá trình đầu tư bao gồm các khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện và quản lý dự án đầu tư. Lợi ích tài chính (biểu hiện qua lợi nhuận) ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ đầu tư, còn lợi ích kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội, của cộng đồng.
Hoạt động đầu tư trong mỗi đơn vị có ba loại trao đổi các giá trị kinh tế chủ yếu. Chính ba loại trao đổi này xác định các chức năng cơ bản của hoạt động đầu tư. Ba loại trao đổi đó bao gồm: Chức năng tài chính (trao đổi để huy động vốn cần thiết); Chức năng đầu tư (trao đổi để khai thác nguồn vốn có sẵn); Chức năng sản xuất (trao đổi để đem lại thu nhập về tài chính dựa trên số vốn đầu tư ). Chức năng tài chính thể hiện ở các hoạt động huy động vốn từ các nhà đầu tư, người cho vay vốn và hoàn trả cho họ từ những nguồn thu của đơn vị.
Trên quan điểm phân tích dự án, nguồn vốn của một đơn vị thường được phân thành hai loại: vốn cổ phần và vốn vay. Vốn cổ phần được huy động qua việc phát hành cổ phiếu. Người mua cổ phiếu là người đầu tư và có quyền sở hữu một phần đối với công ty. Phần lợi nhuận giữ lại trong phần lãi cổ phần để mở rộng đầu tư, cũng được gọi là vốn cổ phần.
7 Vốn vay được vay từ ngân hàng hoặc từ một công ty cho vay thế chấp huy động qua việc phát hành trái phiếu và các nguồn khác. Đây là nguồn vốn của những người cho công ty sử dụng vốn để lấy lãi chứ không có quyền sở hữu đối với công ty. Chức năng đầu tư và sản xuất thể hiện ở các hoạt động đầu tư và sản xuất của đơn vị ở mỗi thời kỳ, đơn vị thường có một số cơ hội đầu tư. Mỗi một cơ hội như vậy được gọi là môt dự án đầu tư hay đơn giản hơn là một dự án.
Chức năng đầu tư là chức năng ra quyết định về các dự án đầu tư (lựa chọn hoặc gạt bỏ). Muốn thế đơn vị phải tiến hành nghiên cứu cơ hội đầu tư, ước lượng chi phí, thu nhập, ước lượng những tổn thất và lợi ích của các hệ quả đầu tư không định lượng bằng tiền tệ, phân tích và lựa chọn dự án theo một tiêu chuẩn hiệu quả nào đó phù hợp với mục tiêu của đơn vị mình.2 Khái niệm về dự án và dự án đầu tư 1.1 Khái niệm về dự án Như ở trên chúng ta đã nhắc đến khái niệm “dự án”, vậy “dự án” là gì và các khía cạnh đa dạng và phong phú của công tác điều hành dự án như thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta sẽ đưa ra khái niệm về dự án và xem xét cách triển khai dự án. Theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo môt kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Dự án không chỉ là môt ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định, dự án không phải là môt nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới, là một nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ duy nhất. Nỗ lực có thời hạn có nghĩa là mọi dự án đầu tư đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Môt số đặc trưng cơ bản của dự án như sau: Dự án có mục đích, kết quả xác định, có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn 8 Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo (mới lạ), môi trường hoạt động “va chạm”, tính bất định và độ rủi ro cao. Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án.
Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần phải duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý khác. Theo bách khoa toàn thư, từ “Project- dự án” được định nghĩa là “Điều người ta có ý định làm” hay “Đặt kế hoạch cho một ý đồ, quá trình hành động”. Đặc điểm của dự án là ở chỗ kết hợp mong muốn với hiện thực, ý tưởng với hành động. Không có cố gắng nghị lực thì sẽ không đạt được mục đích và dự án sẽ tồn tại ở hình thể tiềm tàng, mơ hồ.
Để hiểu một cách đúng đắn ý nghĩa của từ “dự án”, phải lấy của cả hai mặt: ý tưởng và hành động. Do đó chúng ta có thể định nghĩa: thực hiện môt dự án là xác định và dẫn dắt đến thành công một tổ hợp các hành động, quyết định và hàng loạt các công việc phụ thuộc lẫn nhau trong một chuỗi liên kết nhằm: Đáp ứng một nhu cầu đã đề ra; Chịu sự ràng buộc bởi kỳ hạn và nguồn lực; Thực hiện trong một bối cảnh không chắc chắn. Chúng ta nói dự án nhằm đáp ứng một nhu cầu đã đề ra bởi vì dự án được xuất phát từ môt ý tưởng, ý tưởng bắt nguồn từ một cơ hội.