CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm và lý thuyết lien quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cạnh tranh Thuât ngữ cạnh tranh được sử dụng phổ biến trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị…nên có khá nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh.
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học định nghĩa: “Cạnh tranh là sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cô gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được Theo nhà kinh tế học người Mỹ Micheal Porter thì: Cạnh tranh là việc giành giật từ đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp. Tuy nhiên,bản chất của cạnh tranh không phải là tiêu diệt đối thủ mà là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ cạnh tranh để họ có thể lựa chọn cho mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh”. (Micheal Porter, 1996) Trong đại từ điển kinh tế thị trường ( Viện nghiên cứu và phổ biên trí thức Bách Khoa, HN 1998 trang 247) cũng đưa ra định nghĩa nghĩa: “ Cạnh tranh hữu hiệu là một phương thức thíc ứng với thị trường của doanh nghiệp, mà mục đích là giành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho người ta tương đối thỏa mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý…”.
Trong xu hướng toàn cầu hóa thì các nước đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh vừa là cơ hội vừa là thách thức để doanh nghiệp khẳng định mình. Do vậy, cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế( nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ…) nhằm lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ịch về kinh tế,thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Ta thấy có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhiều quan niệm khác nhau về cạnh 9 tranh, kế thừa các quan niệm của các nhà nghiên cứu chúng ta có thể thấy rằng: Cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác. Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực kinh tế, thương mại, luật, chính trị, thể thao.
Cạnh tranh có thể là giữa hai hay nhiều lực lượng, hệ thống, cá nhân, nhóm, loài tùy theo nội dung mà thuật ngữ sử dụng. Cạnh tranh có thể dẫn đến các kết quả khác nhau. (nguồn:http://vi. Khái niệm lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là những thế mạnh đặc biệt của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đạt được chất lượng vượt trội, năng suất vượt trội, sự đổi mới vượt trội và đáp ứng khách hàng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh.
Porter đã viết trong quyển Lợi thế cạnh tranh (Competitive Advantage, 2008) rằng mỗi doanh nghiệp có những lợi thế cạnh tranh khác nhau, để có thể thành công trên thị trường tức là doanh nghiệp phải có khả năng cạnh tranh so với các đối thủ. Mặt khác lợi thế cạnh tranh biểu hiện ở 3 góc độ: hoặc phí tổn thấp hơn, có những khác biệt độc đáo so với đối thủ hoặc tập trung trước tiên vào một phân khúc thị trường nào đó để phát triển.[12] Tóm lại, khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Do vậy mà các doanh nghiệp điều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị sói mòn bới những hành động bắt chước của đối thủ.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực: Theo quan điểm của những nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợ với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Năng lực còn được hiểu theo một cách khác, là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dung khi hoạt động. 10 Năng lực của doanh nghiệp có thể định nghĩa là khả năng kinh doanh có hiệu quả trong một lĩnh vực hoặc theo một phương thức nào đó. Nói một cách nôm na, có thể diễn đạt năng lực của doanh nghiệp như là sở trường, là thế mạnh của doanh nghiệp.
Nó bao gồm cả phần “mềm” lẫn phần “cứng”, nghĩa là cả những nguồn lực vật chất lẫn nguồn lực chất xám, ở đây không thể hiểu bằng số lượng hay bằng cấp của lực lượng nhân sự, mà phải hiểu là khả năng, kỹ năng của những nhân sự đó. Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những năng lực doanh nghiệp thực hiện đặc biệt tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh mà các đối thủ cạnh tranh không dễ dàng thích ứng hoặc sao chép. Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”.
28] Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. NLCT không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ cức quản lý…mà NLCT của mỗi doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. NLCT gắn liền với thị phần của sản phẩm trên thị trường. Nguyễn Hoàng Long, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp được phân chia thành năng lực cạnh tranh marketing và năng lực cạnh tranh phi marketing.
Các yếu tố năng lực cạnh tranh marketing bao gồm: - Chất lượng sản phẩm. - Định giá sản phẩm. - Chính sách phân phối. - Hoạt động quảng cáo và xúc tiến.
- Uy tín và thương hiệu sản phẩm. Các yếu tố năng lực cạnh tranh phi marketing bao gồm: - Khả năng tài chính của doanh nghiệp. - Năng lực quản trị và lãnh đạo. 11 - Nguồn nhân lực.
- Năng lực R & D - Quy mô sản xuất và cơ sở vật chất kỹ thuật. Một số lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của M. Lợi thế cạnh tranh là giá trị mà doanh nghiệp mang đến cho khách hàng, giá trị đó vượt quá chi phí dung để tại ra nó.
Giá trị mà khách hàng sẵn sàng để trả, và ngăn trở việc đề nghị những mức giá thấp hơn của đối thủ cho những lợi ích tương đương hay cung cấp những lợi ích độc nhất hơn là phát sinh một giá cao. Lợi thế cạnh tranh là những thế mạnh đặc biệt của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đạt được chất lượng vượt trội, năng suất vượt trội, sự đổi mới vượt trội, và đáp ứng khách hàng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh.Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển LTCT của doanh nghiệp Chất lượng vượt trội Đáp ứng khách Hiệu suất vượt Lợi thế cạnh tranh Chi phí thấp hàng vượt trội trội Khác biệt hóa Sự đổi mới vượt trội 12 Khi một doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp đó sẽ có cái mà đối thủ khác không có, nghĩa là doanh nghiệp hoạt động tốt hơn đối thủ, hoặc làm được những việc mà các đối thủ khác không thể làm được. Lợi thế cạnh tranh là nhân tố cần thiết cho sự thành công và tồn tại lâu dài của doanh nghiệp. Do vậy mà các doanh nghiệp điều muốn cố gắng phát triển lợi thế cạnh tranh, tuy nhiên điều này thường rất dễ bị sói mòn bới những hành động bắt chước của đối thủ.
Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay dịch vụ ngang bằng. Theo lý thuyết thương mại truyền thống, năng lực cạnh tranh được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động.Porter, NLCT phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự dị biệt của sản phẩm. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thế của mình để đạt thắng lợi trong cạnh tranh. Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh: - Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh.
Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động thường được xem là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh. - Lợi thế về sự khác biệt: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị cho khách hàng, giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng cao tính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhận mức giá thậm chí cao hơn đối thủ. Lý thuyết về giải pháp nâng cao NLCT của doanh nghiệp.
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh Marketing Đảm bảo tốt nhất chất lượng sản phẩm dịch vụ: Chất lượng sản phẩm dịch vụ là thế mạnh của doanh nghiệp, cần duy trì và phát huy thế mạnh này của mình bằng cách tìm kiếm thêm những nhà cung cấp mới đảm bảo các tiêu chuẩn, đầu tư thêm hệ thống máy móc thiết bị. Ban quản lý cần chú ý giám sát, theo dõi thường xuyên hoạt động của các bộ phận phòng ban, khuyến khích nhân viên làm việc tự giác, hiệu quả. Chú trọng đầu tư vào đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm để khách hàng có thêm nhiều lựa chọn, giúp nâng cao khả năng cạnh tranh.