Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh 1.1 Cơ sở lý luận về cạnh tranh Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp về hàng hóa và dịch vụ càng trở nên gay gắt. Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế-xã hội phức tạp, tùy từng cách hiểu và cách tiếp cận mà có nhiều quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Có thể dẫn ra như sau: - Theo Michael Porter (1985, trang 31) thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. - Theo từ điển Bách khoa của Việt Nam tập 1(1995, trang 357) ghi nhận: “Cạnh tranh (kinh tế, triết) là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nên kinh tế thị trường bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất”. - Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2001, trang 117) đề cập đến: “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình”. Chan Kim-Renée Mauborgne (2007), tác giả đã phá bỏ lối suy nghĩ thông thường về cạnh tranh và cho rằng cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến một đại dương đỏ đầy máu của những địch thủ tranh đấu trong một bể lợi nhuận đang cạn dần.
Cạnh tranh trong đại dương Đỏ không làm thị trường tăng lên mà chỉ giành nhau thị phần trong giới hạn thị trường nhất định đã có sẵn. Ngược lại, cạnh tranh trong đại dương Xanh là tạo thêm khoảng thị trường mới, nhu cầu mới. Ngoài ra, các tác giả 8 còn khẳng định những thành công bền vững không đến từ những địch thủ cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt, mà từ việc tạo lập ra những đại dương xanh-những khoảng trống thị trường màu mỡ cho sự tăng trưởng. - Cạnh tranh còn được tác giả Nguyễn Minh Tuấn (2010, trang 13) khái niệm như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồn nhân lực kết hợp áp dụng khoa học công nghệ trong sản xuất cũng như dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách hàng bằng sản phẩm chất lượng và giá cả hợp lý và cạnh tranh, cũng tạo ra sự khác biệt giữa các sản phẩm cùng loại thông qua các giá trị hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp tạo ra.
Quá đó, doanh nghiệp sẽ giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận”. Qua các lý thuyết về cạnh tranh nêu trên thì cạnh tranh được tác giả hiểu như sau: Cạnh tranh không là những hành động mang tính thời điểm mà là cả tiến trình tiếp diễn không ngừng. Cạnh tranh không phải chỉ để triệt tiêu lẫn nhau mà còn dựa trên cơ sở cạnh tranh gắn với liên kết, hợp tác. Các doanh nghiệp đều phải ganh đua nhau để phục vụ tốt nhất cho khách hàng, không có giá trị gia tăng nào có thể giữ nguyên hoặc trường tồn vì thế nếu doanh nghiệp nào bằng lòng với vị thế hiện tại thì nhanh chóng bị bỏ rơi và bị rơi vào tình trạng lạc hậu thậm chí có thể bị đào thải trên thương trường cạnh tranh khắc nghiệt như hiện nay.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh 1.1 Lợi thế cạnh tranh Theo Michael E.
Porter (1985) thì cho rằng lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của doanh nghiệp đã bỏ ra và lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nhiều hoạt động riêng biệt của doanh nghiệp trong thiết kế, sản xuất, marketing, phân phối và hỗ trợ sản phẩm. Mỗi hoạt động trong số này đều đóng góp vào tình trạng chi phí tương đối của doanh nghiệp, tạo cơ sở cho việc khác biệt hóa. 9 Trong lợi thế cạnh tranh có 2 lợi thế cơ bản mà Michael E. Porter đã nhắc đến: - Chi phí tối ưu: cho phép doanh nghiệp sản xuất với chi phí thấp trong ngành, phạm vi hoạt động rộng và phục vụ nhiều phân khúc khác nhau.
Doanh nghiệp có lợi thế về chi phí có thể do ưu thế về quyền sở hữu công nghệ, nguồn vốn, nguồn nguyên liệu. do đó doanh nghiệp sẽ đưa ra mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh nhưng vẫn đạt được lợi nhuận cao cho doanh nghiệp. - Khác biệt hóa: doanh nghiệp sẽ trở thành “người duy nhất” và tạo sự khác biệt so với các đối thủ trong ngành. Dựa vào đánh giá của người mua về các thuộc tính quan trọng của sản phẩm từ đó doanh nghiệp sẽ lựa chọn các thuộc tính ấy để mình trở thành người duy nhất đáp ứng nhu cầu đó.
Phương thức thực hiện khác biệt hóa cũng rất riêng biệt trong từng ngành. Sự khác biệt hóa có thể là: sản phẩm, thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ, phân khúc trên thị trường. Doanh nghiệp phải luôn tìm các cách thức khác biệt hóa sao cho cách này sẽ đưa đến một mức giá bán cao hơn chi phí cho quá trình khác biệt đó.2 Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được đề cập qua một số quan niệm như sau: - Theo Michael E. Porter (1995) cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra, duy trì và sử dụng lợi thế cạnh tranh của công ty để tạo ra năng suất và chất lượng hơn hẳn so với đối thủ cạnh tranh nhằm mở rộng thị phần của công ty và phát triển bền vững trong nền kinh tế thị trường.
- Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được Trần Sửu (2005, trang 27) khái niệm: “Là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”. 10 - Theo Nguyễn Minh Tuấn (2010, trang 25) thì “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển bền vững”. Như vậy, năng lực cạnh tranh được tác giả hiểu một cách khái quát như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể duy trì, chiếm lĩnh thị phần lớn, tăng mức doanh thu, lợi nhuận và định vị được những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh.2 Một số mô hình phân tích năng lực cạnh tranh 1.1 Mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter Mô hình “5 áp lực cạnh tranh” đã được Michael Porter đưa ra. Quan điểm chủ đạo Michael Porter trình bày qua mô hình này đó là, mọi ngành sản xuất kinh doanh đều chịu áp lực cạnh tranh từ 5 lực lượng: khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ hiện hữu, đối thủ tiềm ẩn, sản phẩm thay thế.
Mô hình 5 áp lực cạnh tranh được trình bày tổng quát (xem hình 1.1) như sau: 11 Những đối thủ tiềm năng Nguy cơ từ những đối thủ mới Những đối thủ cạnh tranh trong ngành Nhà Người mua cung cấp Năng lực Năng lực đàm phán Cạnh tranh giữa các đối đàm phán của nhà thủ hiện hữu của người cung cấp mua Sự de dọa của hàng hóa và dịch vụ thay thế Sản phẩm thay thế Hình 1.1 Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael E. Porter (Nguồn: Michael E. Porter, 2012, trang 35) - Áp lực từ khách hàng: doanh nghiệp phải đảm bảo nhu cầu của khách hàng được thỏa mãn đây có lẽ là điều kiện tiên quyết mang về lợi nhuận cho doanh nghiệp, tuy nhiên các doanh phải nắm bắt được những giá trị mà họ mang lại cho khách hàng hoặc những giá trị này có thể là lợi thế cạnh tranh với đối thủ. Hiện nay, khách hàng có đầy đủ thông tin về tiêu dùng, giá sản phẩm thực tế trên thị trường và nhiều khi biết cả chi phí của nhà cung cấp vì vậy họ đòi hỏi những mức giá phù hợp hơn, dịch vụ nhận được tốt hơn.
Chính vì thế áp lực từ khách hàng là áp lực vô cùng lớn và ảnh hưởng mạnh mẽ tới doanh nghiệp. 12 - Áp lực từ nhà cung cấp: để có đầu vào các doanh nghiệp phải hợp tác với các nhà cung cấp. Nếu nhà cung cấp đầu vào có vị thế, quyền lực sẽ áp đặt các điều kiện, giá cả, chất lượng, giao hàng, thanh toán… làm ảnh hưởng và gây áp lực cho doanh nghiệp. Để giảm bớt áp lực từ nhà cung cấp, doanh nghiệp không nên phụ thuộc một nhà cung cấp mà phải lựa chọn nhiều nhà cung cấp khác nhau, tăng cường mối quan hệ với nhà cung cấp, mua bản quyền công nghệ.
- Áp lực từ đối thủ hiện hữu: các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thông qua: sản phẩm, dịch vụ, giá cả, chiến lược marketing. Để giảm áp lực từ đối thủ hiện hữu, cần bám sát các mức giá được định bởi doanh nghiệp dẫn đầu và xu hướng cải tiến tính năng công dụng của sản phẩm, cải tiến mẫu mã và nâng cao chất lượng sản phẩm, và tăng cường dịch vụ phục vụ khách hàng nhằm làm tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp. - Áp lực từ đối thủ tiềm năng: Các đối thủ tiềm năng mong muốn có thể xâm chiếm thị phần với nguồn lực đáng kể. Vì thế, các doanh nghiệp trong ngành sẽ bị giảm về thị phần, giảm lượng khách hàng từ đó chi phí tăng lên và lợi nhuận thì giảm đáng kể.
- Sản phẩm thay thế: là những sản phẩm của các doanh nghiệp trong những ngành khác nhưng thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng giống như sản phẩm của các doanh nghiệp trong ngành đã gián tiếp cạnh tranh. Sự tồn tại của sản phẩm thay thế tạo nên sức ép cạnh tranh rất lớn, làm hạn chế tiềm năng lợi nhuận của một ngành.