CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia. Việc nghiên cứu hiện tượng cạnh tranh đã có từ lâu và lý thuyết về cạnh tranh cũng xuất hiện từ rất sớm với các trường phái nổi tiếng như: lý thuyết cạnh tranh cổ điển, lý thuyết cạnh tranh của trường phái tân cổ điển và lý thuyết cạnh tranh hiện đại.
Các lý thuyết này đã làm rõ bản chất của cạnh tranh, vai trò và tác động của cạnh tranh, các phương thức cạnh tranh… Ngoài các nhà kinh tế cổ điển và các nhà kinh điển, các lý thuyết cạnh tranh gắn với các tên tuổi nổi tiếng của trường phái canh tranh hoàn hảo như W. và trường phái canh tranh hiện đại như: E.Aglietta, Micheal Porter, Micheal Eairbank … Giáo trình kinh tế học định nghĩa: Cạnh tranh là sự giành giật thị trường để tiêu thụ hàng hoá giữa các doanh nghiệp. Ở đây, định nghĩa mới chỉ đề cập đến cạnh tranh trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp. Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành… Vì vậy, ngày nay hầu hết các nước đều thừa nhận và coi cạnh tranh không chỉ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 là môi trường mà nó còn là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Do vậy khái niệm cạnh tranh nói chung là: "sự phấn đấu vươn lên, không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu trong một lĩnh vực hoạt động nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, taọ ra năng suất và hiệu quả cao nhất". Khái niệm về lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh của một doanh nghiệp là những gì làm cho doanh nghiệp ấy khác biệt và chiếm ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh mà doanh nghiệp có, hay khai thác tốt hơn đối thủ cạnh tranh. Việc tạo dựng và duy trì lợi thế cạnh tranh đóng một vai trò rất lớn trong sự thành công của doanh nghiệp.
Theo quan điểm truyền thống cổ điển, các nhân tố sản xuất như: đất đai, vốn, lao động là những yếu tố thuộc về tài sản hữu hình được coi là những nhân tố để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Theo Michael Porter: Lợi thế cạnh tranh xuất phát chủ yếu từ giá trị mà doanh nghiệp có thể tạo ra cho khách hàng. Lợi thế có thể dưới dạng giá cả thấp hơn đối thủ cạnh tranh (trong khi lợi ích cho người mua là tương đương) hoặc việc cung cấp những lợi ích vượt trội so với đối thủ như về chất lượng, độ tin cậy, đặc điểm kỹ thuật, dịch vụ,. khiến người mua chấp nhận thanh toán một mức giá cao hơn hoặc việc tập trung vào một phân khúc thị trường hay nhiều thị trường để phát triển.
Theo tác giả, lợi thế cạnh tranh là nền tảng cho sự cạnh tranh của doanh nghiệp, những gì làm cho doanh nghiệp khác với đối thủ, nổi bật hơn mà các đối thủ cạnh tranh không làm được, hay bản thân doanh nghiệp thực hiện cách nổi trội hơn. Lợi thế cạnh tranh có thể mất dần theo thời gian do sự bắt chước của các đối thủ. Vì vậy, để duy trì lợi thế cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần có chiến lược cạnh tranh hiệu quả. Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ.
Trong luận văn này sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 của doanh nghiệp. Cho đến nay cũng có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh (Michael E. Porter cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp (Vũ Trọng Lâm, 2006). Quan niệm này khá phổ biến tại các doanh nghiệp hiện nay, năng lực cạnh tranh theo đó được diễn giải là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ và khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp so với đối thủ. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD, 2002) định nghĩa năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động, là sức sản xuất cao trên cơ sở sử dụng hiệu quả yếu tố sản xuất để phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững (Nguyễn Hữu Thắng, 2008).
Tóm lại từ những khái niệm trên thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tận dụng những nội lực bên trong cũng như khai thác những thuận lợi của môi trường bên ngoài để tạo ra lợi thế cạnh tranh giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp mang tính tổng hợp của nhiều yếu tố cấu thành khác nhau và có thể xác định cho nhóm doanh nghiệp hay cho từng doanh nghiệp, tuy nhiên để phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì cẩn phải xem xét các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối tác cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình.
Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh. Có nhiều tác giả đã đề xuất các lý thuyết về các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và được trình bày trong những giáo trình, tài liệu khác nhau. Mỗi tác giả có những quan điểm khác nhau tuy nhiên cũng có những điểm chung. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chỉ bao hàm các nhân tố chủ quan, phản ánh nội lực của doanh nghiệp, không bao hàm các nhân tố khách quan, các yếu tố môi trường kinh doanh (Phan Minh Hoạt, 2004).
Đối với đề tài này, tác giả chỉ tập trung phân tích các yếu tố bên trong là yếu tố cấu thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, còn các yếu tố bên ngoài được xem như tạo ra thách thức và cơ hội như nhau cho mọi doanh nghiệp trong ngành. Do đó, tác giả chỉ tập trung đến các yếu tố bên trong cấu thành nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó phân tích đánh giá thực trạng và đề ra các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Mô hình Kim cương của M. Porter chỉ ra rằng có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: (1) “ngữ cảnh” của doanh nghiệp, (2) điều kiện cầu (thị trường), (3) điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), (4) các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ngành cung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), (5) các yếu tố ngẫu nhiên và (6) yếu tố nhà nước.
Tuy nhiên, các yếu tố trên cũng có thể được chia thành hai nhóm: (1) các yếu tố bên trong DN và (2) các yếu tố bên ngoài DN. Mô hình Kim cương của M. Porter (1990)) Tam giác năng lực cạnh tranh: Mô hình này được đưa ra bởi Lall (2001, trích trong Flanagan và cộng sự, 2005), tương tự như mô hình Kim cương của Porter. Nhưng trong khi mô hình của Porter xác định nhân tố nào tạo nên năng suất quốc gia thì Lall lại hướng các nghiên cứu của bà vai trò của các loại thị trường.
Sự khác nhau giữa cách nhìn của Lall với quan điểm của Porter là xem sự hỗ trợ của Chính phủ như là một nhân tố then chốt trong khi Porter lại cho vai trò của chính phủ như một nhân tố ngoại lai.