CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Khái quát về công ty chứng khoán 1. Khái niệm, đặc điểm của công ty chứng khoán 1. Khái niệm công ty chứng khoán - Thị trường chứng khoán là một trong những hình thức phát triển bậc cao của nền kinh tế một quốc gia.
Một quốc gia phát triển được đo lường thông qua thị trường chứng khoán của quốc gia đó phát triển hay không. - Các chủ thể tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán cần phải thực hiện qua khâu trung gian là thông qua các công ty chứng khoán nhằm đảm bảo tính trật tự của thị trường và đảm bảo quyền lợi cho các nhà đầu tư. - Vậy, công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. - Hiện nay trên thế giới, các công ty chứng khoán có rất nhiều hình thức pháp lý như: quốc doanh, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn, liên doanh, doanh nghiệp tư nhân… Theo Luật Chứng khoán hiện hành, các công ty chứng khoán hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có hai hình thức pháp lý là công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn.
Ưu điểm của hai loại hình công ty này là công ty chứng khoán có thể huy động vốn dễ dàng thông qua việc bổ sung vốn của các thành viên góp vốn hoặc huy động vốn trên thị trường chứng khoán thông qua việc phát hành cổ phiếu (đối với công ty cổ phần) và phát hành trái phiếu (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn). Đồng thời chia sẻ rủi ro trong phạm vi vốn góp. SV: Hoàng Anh Nhật 3 l ớp CQ48/17.01 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH 1. Đặc điểm của công ty chứng khoán - Là một chủ thể kinh doanh, công ty chứng khoán cũng mang đầy đủ những đặc điểm của các doanh nghiệp nhằm mục tiêu hoạt động tìm kiếm lợi nhuận.
Tuy nhiên với việc cung cấp các sản phẩm dịnh vụ liên quan tới chứng khoán – tồn tại dưới hình thức bút toán ghi sổ hoặc các loại giấy tờ có giá, nên các công ty chứng khoán cũng mang các đặc trưng riêng biệt. - Xét trên bản chất, công ty chứng khoán có các đặc trưng riêng biệt sau: + Mô hình tổ chức: Hiện nay trên thế giới tồn tại 2 mô hình công ty chứng khoán phổ biến, đó là: Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: Theo mô hình này hoạt động của các công ty chứng khoán sẽ do chính các công ty chứng khoán đảm nhận và chịu trách nhiệm, các ngân hàng sẽ không được tham gia vào hoạt động kinh doanh chứng khoán. Mô hình này có ưu điểm là tạo điều kiện hoạt động độc lập và tự chủ cho thị trường chứng khoán đồng thời hạn chế rủi ro cho hệ thống ngân hàng. Hiện tại mô hình này đang được áp dụng tại các quốc gia như Mĩ, Nhật Bản, Hà Lan,.
Ngày nay với sự phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giới, các quốc gia có xu hướng tạo điều kiện cho hoạt động tiền tệ và chứng khoán nên đã cho phép hình thành mô hình công ty chứng khoán đa năng một phần. Đó là việc các ngân hàng thương mại thành lập công ty con để thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán. Đây cũng là một hình thức khá phổ biến tại Việt Nam hiện tại với những cái tên như: VCBS, MBS, CTS,. SV: Hoàng Anh Nhật 4 l ớp CQ48/17.01 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Mô hình công ty chứng khoán đa năng: Theo mô hình này các ngân hàng thương mại được phép tham gia các hoạt động kinh doanh doanh chứng khoán.
Mô hình này được chia làm 2 phần: Đa năng 1 phần: Các ngân hàng thương mại phải thành lập công ty chứng khoán con trực thuộc, hạch toán độc lập và hoạt động tách rời với các hoạt động kinh doanh tiền tệ. Đa năng toàn phần: Các ngân hàng thương mại được tham gia hoạt động kinh doanh chứng khoán theo quy định của pháp luật. Mô hình công ty chứng khoán đa năng có ưu điểm giúp các ngân hàng thương mại tham gia có thể đa dạng hóa các rủi ro, tận dụng các lợi thế về nguồn vốn của mình để cung cấp và tạo động lực cho thị trường chứng khoán phát triển. Tuy nhiên mô hình này cũng có hạn chế là việc tách bạch việc kinh doanh chứng khoán và hoạt động tiền tệ của các ngân hàng thương mại là rất khó, đồng thời rủi ro hệ thống ngân hàng có thể xảy ra khi thị trường chứng khoán có diễn biến sụt giảm nghiêm trọng.
+ Tính chuyên môn hóa và phân cấp quản lý Các công ty chứng khoán chuyên môn hóa ở mức độ cao trong từng bộ phận, từng phòng ban, từng đơn vị kinh doanh nhỏ Toàn bộ các nghiệp vụ của công ty chứng khoán đều phục vụ cho các giao dịch chứng khoán tuy nhiên mỗi nghiệp vụ lại có các đặc thù riêng biệt. Các phòng ban sẽ đảm nhận các chức năng riêng phù hợp với chức năng của mình. Vai trò của công ty chứng khoán 1. Đối với tổ chức phát hành SV: Hoàng Anh Nhật 5 l ớp CQ48/17.01 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Các doanh nghiệp muốn hoạt động thì huy động vốn đầu vào là 1 trong những khâu quan trọng quyết định tới sự hình thành của doanh nghiệp.
Hiện nay, kênh huy động vốn qua thị trường chứng khoán là một trong những kênh quan trọng và quen thuộc đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế. Khi doanh nghiệp muốn huy động vốn trên thị trường chứng khoán thì doanh nghiệp không thể tự phát hành và bán cổ phần của mình bởi nghiệp vụ này cần có các yêu cầu về chuyên môn, kinh nghiệm và một số yêu cầu về vốn,. Vì vây, doanh nghiệp cần có những tổ chức có chuyên môn nghiệp vụ như công ty chứng khoán sẽ giúp họ trong khâu này. Và đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của công ty chứng khoán.
Đối với nhà đầu tư Trên thị trường chứng khoán, giá chứng khoán, các thông tin luôn biến động không phải nhà đầu tư nào cũng có đủ năng lực, trình độ và điều kiện để nắm bắt và xử lí được những biến động đó. Vì vậy, công ty chứng khoán sẽ là cơ sở để cho các nhà đầu tư có thể nắm bắt được các thông tin hữu ích, có chọn lọc và được phân tích có chuyên môn đáng tin cậy. Từ đó, các nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư và quản lý danh mục đầu tư sẽ giúp cho nhà đầu tư có các quyết định đúng đắn và hợp lý với yêu cầu, đồng thời giúp cho nhà đầu tư tiết kiệm chi phí và thời gian giao dịch. Đối với thị trường chứng khoán Công ty chứng khoán đóng vai trò điều tiết và tạo lập giá cả thị trường cho các chứng khoán.
Giúp nhà đầu tư có thể đánh giá hợp lí và thực tế danh mục đầu tư của mình. SV: Hoàng Anh Nhật 6 l ớp CQ48/17.01 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH Công ty chứng khoán giúp tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán qua đó nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyến đổi từ chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại trong 1 môi trường đầu tư ổn định. Qua đó giúp bảo về quyền và lợi ích cho nhà đầu tư tránh khỏi các thiệt hại ở mức tối đa nhất. Đối với cơ quan quản lý thị trường Công ty chứng khoán là thành viên hoạt động thường xuyên, liên tục trên thị trường theo nguyên tắng trung gian và công khai.
Với ưu thế thông qua các nghiệp vụ của mình, các công ty chứng khoán có thể nắm rõ thông tin và tình hình của các tổ chức phát hành và nhà đầu tư, cung cấp những biến động của thị trường 1 cách nhanh chóng và xác thực nhất. Dựa vào các nguồn thông tin này, cơ quan quản lý thị trường có thể theo dõi, giám sát 1 cách tổng quan các hoạt động trên thị trường chứng khoán, từ đó đưa ra các quyết sách hợp lý, đúng đắn, kịp thời đảm bảo cho thị trường hoạt động 1 cách liên tục và hiệu quả. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán 1. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán Môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó công ty chứng khoán đóng vai trò trung gian đứng ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua các cơ chế giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC mà chính các khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với các giao dịch đó.
Đây là nghiệp vụ cốt lõi của các công ty chứng khoán. Quy trình của nghiệp vụ này bao gồm: Nhận lệnh giao dịch từ khách hàng- Chuyển các lệnh vào hệ thống giao dịch của Sở giao dịch- Thanh toán và quyết toán các giao dịch. Khi thực hiện hoạt động môi giới, các công ty chứng khoán sẽ thu phí SV: Hoàng Anh Nhật 7 l ớp CQ48/17.01 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP HỌC VIỆN TÀI CHÍNH môi giới từ khách hàng, thường được tính bằng phần trăm của tổng giá trị giao dịch. Theo quy định hiện tại của luật chứng khoán, đối với các công ty chứng khoán được phép thực hiện nghiệp vụ môi giới chứng khoán phải có vốn pháp định 25 tỷ đồng.
Còn đối với các nhân viên môi giới phải có trình độ, đạo đức nghề nghiệp, các chứng chỉ hành nghề mà Ủy ban chứng khoán Nhà nước yêu cầu. Nghiệp vụ tự doanh Đối với nghiệp vụ tự doanh, các công ty chứng khoán sẽ tự mua- bán chứng khoán để hưởng chênh lệch giá và tự chịu trách nhiệm về lãi-lỗ. Đây cũng là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của công ty chứng khoán nhất là trong giai đoạn thị trường chứng khoán cao trào những năm 2006-2007. Qua đó tự doanh sẽ góp phần tạo tính thanh khoản và làm thị trường sôi động hơn.
Tự doanh là hoạt động mà công ty chứng khoán tự kiếm lời cho chính mình nên song hành với đó là mức độ rủi ro khá cao. Vì vậy theo quy định của luật chứng khoán thì mức vốn pháp định để thực hiện nghiệp vụ tự doanh là 100 tỷ đồng. Đồng thời các nhân viên thực hiện nghiệp vụ này cần có yêu cầu về trình độ chuyên môn nhất định.