Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Truyền hình cáp Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Truyền hình cáp Việt Nam. 2 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ 1.
Những vấn đề lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm về năng lực cạnh tranh 1. Cạnh tranh Thực tế đã chứng tỏ, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, để một DN có thể đứng vững thì năng lực cạnh tranh cần ngày một được nâng cao. Vậy cần hiểu thế nào cho đúng về khả năng cạnh tranh.Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch.
Nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành. Có các quan niệm khác lại cho rằng “Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của DN mình sao cho tốt hơn các DN khác.” Theo kinh tế chính trị học: “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành giật thị trường khách hàng cho DN mình”. Cụ thể, trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các DN trên thị trường nhằm giành giật được ưu thế hơn về cùng một loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh vốn là một quy luật tự nhiên và khách quan của nền kinh tế thị trường, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của mỗi người, bởi tự do là nguồn gốc dẫn đến cạnh tranh, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất, lưu thông hàng hóa phát triển.
Bởi vậy, để giành được các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm buộc các DN phải thường xuyên đổi mới, tích cực nhạy bén và năng động, cập nhật cải tiến kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ mới, bổ sung xây dựng các cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị máy móc mới thay thế máy móc thiết bị lạc hậu. Thêm vào đó, cần có phương pháp tổ chức quản lý có hiệu quả, đào tạo và nâng cao năng lực chuyên môn đối với người lao động. 3 Cạnh tranh có thể đưa lại lợi ích cho người này và thiệt hại cho người khác nhưng xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực như sản phẩm tốt hơn, giá rẻ hơn, dịch vụ tốt hơn. Khi đó người tiêu dùng là người được hưởng lợi nhiều nhất khi có quyền được lựa chọn các mặt hàng khác nhau không chỉ hợp lý về chất lượng sản phẩm mà còn cạnh tranh trong giá cả.
Cạnh tranh làm cho thị trường hoạt động có hiệu quả nhờ việc phân bổ hợp lý các nguồn lực có hạn. Đây cũng là động lực cho sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên cạnh tranh cũng có những biểu hiện tiêu cực như cạnh tranh thiếu sự kiếm soát, cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến sự phát triển sản xuất tràn lan, lộn xộn, tình trạng thôn tính lẫn nhau giữa các DN, gây khủng hoảng thừa, thất nghiệp và làm thiệt hại quyền lợi người tiêu dùng. Khoa học công nghệ phát triển đã đẩy mạnh nền sản xuất, sản phầm ngày càng nhiều trên thị trường, cung càng vượt cầu thì cạnh tranh càng gay gắt.
Khi tính cạnh tranh của thị trường ngày càng cao, nếu như các DN không tìm mọi cách khai thác lợi thế cạnh tranh của riêng mình, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triền sẽ dẫn đến việc DN không thể tự chủ được, và xấu nhất là đứng bên bờ vực phá sản. Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phầm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh Với những quan niệm khác nhau về tính cạnh tranh trong thị trường, theo đó sẽ có nhiều khái niệm khác về năng lực cạnh tranh của DN. Theo lý thuyết thương mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của DN được xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất.
Hiệu quả của các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh được đánh giá dựa trên mức chi phí thấp. Chi phí sản xuất thấp không chỉ là điều kiện cơ bản của lợi thế cạnh tranh mà còn đóng góp tích cực cho nền kinh tế. 4 Theo quan điểm tổng hợp của Van Duren, Martin và Westgren thì năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận, thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước, đi cùng với đó là các chỉ số đánh giá năng suất lao động, công nghệ, tổng năng suất các yếu tố sản xuất, chi phí cho nghiên cứu và phát triển, chất lượng và tính khác biệt của sản phẩm, chi phí đầu vào… Lý thuyết tổ chức công nghiệp xem xét năng lực cạnh tranh của DN dựa trên khả năng sản xuất ra sản phẩm ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn giá phổ biến mà không có trợ cấp, đảm bảo cho ngành, DN đứng vững trước các đối thủ khác hay các sản phẩm thay thế. Theo “Chiến lược cạnh tranh” của Micheal Porter, năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận.
Như vậy, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” dù đã được sử dụng phổ biến nhưng vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về nó, dẫn đến cách thức đo lường năng lực cạnh tranh của các DN vẫn chưa được xác định một cách thống nhất và phổ biến. Tuy vậy, khái niệm “năng lực cạnh tranh” có thể được hiểu một cách chung nhất là khả năng khai thác, huy động, quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực giới hạn như nhân lực, vật lực, tài lực, .để tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn so với đối thủ cạnh tranh; đồng thời biết lợi dụng các điều kiện khách quan một cách có hiệu quả để tạo ra lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ, xác lập vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường; từ đó, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao, đảm bảo cho DN tồn tại, tăng trưởng và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh được phân biệt thành bốn cấp độ sau: Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa: là khả năng sản phẩm đó bán được với giá tốt khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, thương hiệu, quảng cáo, uy tín của người bán, chính sách bán hàng.
5 Năng lực cạnh tranh của DN: là khả năng DN tạo ra được lợi thế cạnh tranh có năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn c ủa đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập và lợi nhuận cao để tồn tại và phát triển bền vững. Năng lực cạnh tranh của ngành: là khả năng ngành phát huy được những lợi thế cạnh tranh và có năng suất so sánh cao hơn giữa các ngành cùng loại. Năng lực cạnh tranh của quốc gia: là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế, xã hội khác. Năng lực cạnh tranh của quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo có hiệu quả phân bổ nguồn lực, nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển bền vững.
Năng lực cạnh tranh ở bốn cấp độ trên có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Do đó, khi xem xét, đánh giá và ra các gi ải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của DN, cần thiết phải đặt nó trong mối tương quan chung giữa các cấp độ cạnh tranh nêu trên. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh của DN cũng cần phải được tiếp cận đồng thời trên hai góc độ: Các chỉ tiêu đo lường năng lực cạnh tranh: thị phẩn, năng suất lao động, tỷ suất lợi nhuận, chất lượng và tính khác biệt của sản phẩm. Các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh (bên trong DN): đội ngũ nhân lực, bí quyết công nghệ, năng lực quản trị.
Đây là các yếu tố nền tảng để nhà quản trị đưa ra các chiến lược nhằm xây dựng và duy trì năng lực cạnh tranh lâu dài cho DN. Các hình thức cạnh tranh của DN 1. Phân loại cạnh tranh Cạnh tranh được xem xét trên các phương diện khác nhau, do đó cũng có những hình thức cạnh tranh khác nhau. Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường: Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình.
Người bán muốn bán với giá cao nhất có thể, còn người mua muốn mua với giá rẻ nhất 6 nhưng chất lượng vẫn không thay đổi. Tuy vậy, mức giá vẫn là sự thỏa thuận mang lại lợi ích cho cả hai bên giao dịch. Cạnh tranh giữa người mua và người mua: là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu. Lúc này hàng hóa trên thị trường trở nên khan hiếm, người mua sẵn sàng mua với mức giá cao hơn để đạt được nhu cầu mong muốn của mình, do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua.
Điều này làm cho giá cả hàng hóa tăng lên, người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá và chất lượng. Tuy nhiên trường hợp này chủ yếu tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hóa nào đó.