Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.1 Một số khái niệm Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau. Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học (2001, trang 42), cạnh tranh là : “Sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia. Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng giành được”.Porter (1985, trang 31): “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”.
Theo Từ điển bách khoa của Việt Nam 1 (1995, trang 357): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Ngày nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và xem cạnh tranh không chỉ tác động thúc đẩy sự phát triển mà còn là yếu tố quan trọng lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội, tạo động lực cho nền kinh tế thị trường. Vì vậy, khái niệm tổng quát về cạnh tranh có thể được hiểu như sau: Cạnh tranh là cuộc đấu tranh sinh tồn diễn ra gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể tham LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 gia thị trường, theo đó các chủ thể kinh tế huy động tổng lực (nội lực và ngoại lực) của mình trên cơ sở sử dụng các công cụ cạnh tranh nhằm giành được ưu thế trên thương trường để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
Năng lực cạnh tranh Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam 3 (2003, trang 41) “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng. Bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài, doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí của mình so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp …, mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường, với hiệu quả sản xuất kinh doanh … Theo báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu (1997) của diễn đàn kinh tế Thế giới (World Economics Forum - WEF) do các giáo sư đại học Harvard như Michael E. Porter, Jeffrey Shach và chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được các mục tiêu doanh nghiệp đặt ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Lợi thế cạnh tranh Theo Từ điển Thuật ngữ kinh tế học (2001, trang 323) thì “Lợi thế cạnh tranh là tài sản tích lũy và đặc trưng của xí nghiệp (Chi phí thấp, nhãn hiệu cải tiến, chủ động cung cấp nguyên liệu, v.) cho phép xí nghiệp có lợi thế cạnh tranh hơn đối thủ”. Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi.
Nói đến lợi thế cạnh tranh là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Porter (1985) cho rằng lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh. Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được.
Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh, tạo điều kiện để tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân ngành. Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay quanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường. Những khác biệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như: ưu việt về thiết kế hay danh tiếng sản phẩm, phong cách chuyên nghiệp, thương hiệu … và bồi đắp sự hài lòng của khách hàng. Từ đó mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận … Chiến lược cạnh tranh Chiến lược cạnh tranh là hệ thống những biện pháp, phương thức mà một doanh nghiệp cố gắng để có được một sự khác biệt rõ ràng hơn hẳn đối thủ cạnh tranh, để tận dụng những sức mạnh tổng hợp của mình nhằm thỏa mãn một cách tốt hơn, đa dạng hơn, đúng với thị hiếu của khách hàng.
nhằm đạt mục tiêu cụ thể đã hoạch định. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Doanh nghiệp có thể theo đuổi một trong các chiến lược này. Năng lực cốt lỗi: Năng lực cốt lỗi là cốt lõi của những gì làm cho một tổ chức có được những năng lực độc đáo, duy nhất trong việc cung cấp giá trị tới khách hàng của nó”.
Năng lực cốt lỗi phải là: Có giá trị, nó có thể giúp một công ty khai thác tốt các cơ hội để tạo ra giá trị cho khách hàng hoặc làm vô hiệu hóa các đe dọa của môi trường. Hiếm, nó được chiếm giữ bởi rất ít các công ty hoặc các nhà cạnh tranh tiềm tang. Chi phí đắt cho việc bắt chước, nó được tạo ra trong những điều kiện lịch sử độc đáo, duy nhất, khó nhận biết, đòi hỏi sự phối hợp phức tạp của nhiều yếu tố vì vậy các nhà cạnh tranh khó phát hiện và bắt chước. Không có khả năng thay thế, nó không có khả năng thay thế, chẳng hạn như những kiến thức đặc biệt của một công ty hoặc những quan hệ dựa trên nền tảng tin cậy 1.2 Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh (các yếu tố bên trong) Có nhiều yếu tố góp phần tạo ra năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các yếu tố đó được trình bày tóm tắt dưới đây.1 Sản xuất Năng lực cạnh tranh có thể đến từ yếu tố sản xuất. Yếu tố sản xuất của doanh nghiệp có ba khía cạnh cần quan tâm, đó là quy mô và kinh nghiệm sản xuất, công LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghệ và phương thức tổ chức sản xuất. Porter (1985), yếu tố sản xuất có thể giúp giảm chi phí và tạo ra lợi thế cạnh tranh. Trong các ngành sản xuất công nghiệp nói chung và ngành sản xuất may mặc nói riêng, quy mô của sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, quy mô sản xuất càng lớn, đạt mức tối ưu giúp giá thành sản xuất càng thấp và khả năng chiếm lĩnh và ảnh hưởng đến thị trường càng lớn và ngược lại.
Máy móc thiết bị là phần quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp, nó đại diện cho trình độ kỹ thuật và năng lực sản xuất hiện đại của doanh nghiệp, cùng với máy móc thiết bị, phương thức sản xuất cách bố trí lực lượng sản xuất phù hợp, kinh nghiệm vận hành tối ưu hóa trong các quy trình sản xuất sẽ làm cho năng suất lao động được tăng lên giúp doanh nghiệp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Mức độ hiện đại hóa của dây chuyền công nghệ và thiết bị được khách hàng đánh giá cao bởi nó liên quan đến chất lượng sản phẩm.2 Marketing Năng lực marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu dùng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần, nâng cao vị thế của doanh nghiệp. Khảo sát nhu cầu thị trường để lựa chọn thị trường mục tiêu phù hợp, xây dựng chiến lược sản phẩm, định giá và phát triển hệ thống phân phối là những hoạt động sống còn của doanh nghiệp. Dịch vụ khách hàng Dịch vụ khách hàng tác động lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất may mặc.
Công tác dịch vụ khách hàng xuyên suốt từ việc tiếp cận, hỗ trợ các khách hàng tiềm năng, tiếp nhận đơn hàng, điều phối sản xuất và giao hàng đúng hạn cho đến việc giải quyết khiếu nại của khách hàng. Năng lực cạnh tranh về giá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Giá thành sản phẩm cấu thành bởi hai yếu tố chính, đó là nguyên vật liệu đầu vào và chi phí sản xuất. Ngoài ra các chi phí gián tiếp khác ảnh hưởng đến giá thành của sản phẩm như chi phí bán hàng, chi phí quản lý chung … Theo Michael E. Porter, chi phí thấp giúp cho doanh nghiệp có mức lợi nhuận trên mức trung bình trong ngành mặc dù có nhiều đối thủ cạnh tranh.
Để đạt được điều này thì doanh nghiệp cần có sự đầu tư và khả năng tiếp cận nguồn vốn, kỹ năng kỹ thuật, hệ thống quản lý chặt chẽ, sản phẩm được thiết kế để có thể sản xuất dễ dàng, hệ thống phân phối hiệu quả với chi phí thấp. Năng lực cạnh tranh về giá thể hiện ở mức giá phù hợp với thị trường, mức giá bán so với đối thủ, khả năng chiết khấu ở các đơn hàng số lượng lớn và mức độ tăng giá sản phẩm khi giá các yếu tố đầu vào tăng lên. Năng lực cạnh tranh về chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm thể hiện những thuộc tính đặc trưng của sản phẩm thỏa mãn được những yêu cầu đã đặt ra.