CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. KHÁI NIỆM CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1. Khái niệm cạnh tranh và các loại cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là quy luật kinh tế phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế ở các quốc gia.
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có những quan điểm khác nhau về cạnh tranh. Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin [5]: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất – kinh doanh với nhau nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất – kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh”. Theo Nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980). Theo Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho rằng : “Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp , ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Với nghĩa trên, phạm trù cạnh tranh, được hiểu là quan hệ kinh tế, trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là giành lấy thị trường, chiếm lĩnh khách hàng cũng như các thị trường, điều kiện sản xuất có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể trong qúa trình cạnh tranh là nhằm tối đa hóa lợi ích. Đối với 5 người sản xuất kinh doanh đó là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường. Cạnh tranh là động lực, là một trong những nguyên tắc cơ bản, tồn tại khách quan và không thể thiếu được của sản xuất hàng hóa.
Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh. Cạnh tranh bao gồm việc cạnh tranh chiếm các nguồn nguyên liệu, giành các nguồn lực sản xuất; cạnh tranh về khoa học công nghệ; cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ, giành nơi đầu tư, các hợp đồng, các đơn đặt hàng; cạnh tranh bằng giá cả, phi giá cả, bằng các thủ đoạn kinh tế và phi kinh tế,…Cạnh tranh có nhiều loại: cạnh tranh giữa người mua và người bán, cạnh tranh trong nội bộ ngành và giữa các ngành, cạnh tranh trong giới hạn quốc gia và quốc tế. Trong nền sản xuất hàng hóa cạnh tranh có vai trò rất lớn. Nó buộc người sản xuất – kinh doanh phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới, nhạy bén, năng động, tổ chức quản lý có hiệu quả.
Thực tế cho thấy, ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc quyền thì ở đó thường trì trệ bảo thủ, kém hiệu quả vì mất đi cơ chế tác dụng đào thải cái lạc hậu, bình tuyển cái tiến bộ để thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển. Các loại cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trường (KTTT) có nhiều tiêu thức được sử dụng làm căn cứ để phân loại cạnh tranh. Căn cứ vào chủ thể tham gia, mức độ, tính chất cạnh tranh trên thị trường và phạm vi ngành kinh tế. - Xét theo tính chất của phương thức cạnh tranh: + Cạnh tranh lành mạnh: là loại cạnh tranh theo đúng quy định của pháp luật, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh (KD).
Cạnh tranh có tính chất thi đua, thông qua đó mỗi chủ thể nâng cao năng lực của chính mình mà không dùng thủ đoạn triệt hạ đối thủ. Phương châm của cạnh tranh lành mạnh là “ không cần phải thổi tắt ngọn nến của người khác để mình tỏa sáng”. Bởi vì, trong kinh doanh không nhất thiết phải “kẻ thắng người thua”, thực tế là hầu hết các DN chỉ thành công khi những người khác thành công “buôn có bạn bán có phường”. 6 + Cạnh tranh không lành mạnh: là bất cứ hành động kinh tế trái với đạo đức nhằm làm hại các đối thủ kinh doanh hoặc khách hàng.
Và cũng gần như sẽ không có người thắng nếu việc kinh doanh được tiến hành như một cuộc chiến. Cạnh tranh khốc liệt mang tính tiêu diệt chỉ dẫn đến một hậu quả thường thấy sau cuộc cạnh tranh khốc liệt là sự sụt giảm mức lợi nhuận ở khắp mọi nơi. Mục đích của KD là mang lại lợi nhuận tối đa cho DN mình, đôi khi đó là sự trả giá của người khác. Trên thực tế nhiều DN còn dùng những thủ đoạn “ bẩn” nhằm hạ thấp và loại trừ các DN họat động trên cùng một lĩnh vực ngành nghề để độc chiếm thị trường “ cá lớn nuốt cá bé”.
- Xét theo hình thái cạnh tranh: + Cạnh tranh tự do hay cạnh tranh hoàn hảo: là loại cạnh tranh theo các quy luật của thị trường mà không có sự can thiệp của các chủ thể khác. Giá cả của sản phẩm được quyết định bởi quy luật cung cầu trên thị trường. Cung nhiều cầu ít sẽ dẫn tới giá giảm và ngược lại cung ít cầu nhiều thì giá sẽ tăng lên. + Cạnh tranh độc quyền hay cạnh tranh không hoàn hảo: là cạnh tranh mang tính chất “ảo”, thực chất của cạnh tranh này là sự quảng cáo để chứng minh sự đa dạng của một sản phẩm nào đó, để khách hàng lựa chọn một trong số những sản phẩm nào đó của một DN nào đó chứ không phải của DN khác.
Loại cạnh tranh này xảy ra khi trên thị trường một lượng lớn các nhà sản xuất sản xuất ra những sản phẩm tương đối giống nhau nhưng khách hàng lại cho rằng chúng có sự khác biệt, dựa trên chiến lược khác biệt hóa sản phẩm của các công ty. Trong cạnh tranh độc quyền có thể phân chia thành hai loại: - Độc quyền nhóm: Là loại độc quyền xảy ra khi trong ngành có rất ít nhà sản xuất, bởi vì các ngành này đòi hỏi vốn lớn, rào cản gia nhập ngành khó. - Độc quyền tuyệt đối: Xảy ra khi trên thị trường tồn tại duy nhất một nhà sản xuất và giá cả, số lượng sản xuất ra hoàn toàn do nhà sản xuất này quyết định. Khái niệm năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh (NLCT) là khái niệm tổng hợp được xây dựng trên cơ sở kết nối và tổng hợp hệ thống nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài ở các cấp quốc gia, 7 cấp tỉnh, cấp doanh nghiệp với tư cách là những thực thể độc lập. Theo đó, khái niệm về năng lực cạnh tranh được chia làm 3 cấp độ, cụ thể như sau: - Năng lực cạnh tranh quốc gia: là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian. Theo đánh giá NLCT của WEF [17], NLCT của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao, là tăng năng lực sản xuất bằng việc đổi mới, sử dụng các công nghệ cao hơn, đào tạo kỹ năng liên tục, quan tâm đến công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm hàng hóa dịch vụ hấp dẫn với người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với đối thủ cạnh tranh.
- Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường. cạnh tranh sản phẩm thể hiện những lợi thế của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh. Trong khuôn khổ của khóa luận này, vấn đề năng lực cạnh tranh được đề cập có giới hạn trong phạm vi vùng – nhỏ hơn phạm vi quốc gia, tức là ở cấp độ chính quyền tỉnh, thành phố, cấp độ điều hành kinh tế tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh tại địa phương. Khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Cạnh tranh cấp tỉnh là đặc thù của Việt Nam bởi nó mang đầy đủ tính chất chung của cạnh tranh và có những đặc trưng cơ bản sau đây [13]: - Về nguồn gốc, cạnh tranh cấp tỉnh xuất hiện khi có sự phân cấp về kinh tế, nhất là trong lĩnh vực đầu tư và quản lý doanh nghiệp, giữa cấp TW và cấp tỉnh.
Trong đó, các chủ thể cạnh tranh là chính quyền cấp tỉnh trong mối quan hệ quản lý với các chủ thể sản xuất kinh doanh và những yếu tố ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của tỉnh. - Về mục tiêu cạnh tranh: các chủ thể cạnh tranh có cùng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tối đa hóa lợi ích cho các địa phương thông qua việc tạo các điều kiện thuận lợi, cơ hội để mang lại hiệu quả sản xuất cao nhất cho các doanh nghiệp. 8 - Về phương pháp và công cụ cạnh tranh, đó là tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, hiệu quả nhất thông qua việc tạo ra sự khác biệt trong điều hành kinh tế ở mỗi địa phương. - Các chủ thể cạnh tranh tuân thủ những ràng buộc chung, đó là các cơ chế chính sách, thể chế của chính quyền TW, thông lệ quốc tế và sự hạn chế các nguồn lực ở mỗi địa phương nên cần phát triển quan hệ liên kết, hợp tác để đạt hiệu quả tối ưu.
- Quá trình cạnh tranh được diễn ra liên tục theo thời gian và trong phạm vi không gian là các tỉnh thành của Việt Nam. CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH, XẾP HẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH 1.