chương 1 của luận văn, nội dung chính nêu ra lí do chọn đề tài và tóm tắt các vấn đề nghiên cứu được đề cập trong khóa luận tốt nghiệp. Trong phần này tác giả nêu ra mục tiêu cần nghiên cứu từ đó chỉ rõ các câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu để giải quyết các vấn đề đặt ra. Ở chương 2 tác giả sẽ thực hiện phân tích các cơ sở lí thuyết, những công trình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước nhằm làm luận cứ khoa học hình thành luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Các khái niệm liên quan 2. Tổng quan khoa học 2. Khái niệm khoa học Luật Khoa học và công nghệ Việt Nam (2018) qui định “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy”. Tổ chức UNESCO (1961) định nghĩa rằng “Khoa học là hệ thống tri thức về một loại qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, tư duy”.
Thêm vào đó, tác giả Võ Thị Ngọc Lan và Nguyễn Văn Tuấn (2012) đã tiếp cận thuật ngữ “Khoa học” như sau: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nền tảng cho một bức tranh của thế giới. Từ “Khoa học” cũng có thể biểu thị những lĩnh vực tri thức chuyên ngành nhằm miêu tả, giải thích và dự báo các quá trình, các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ sở những qui luật mà nó khám phá”. Cùng với việc xem xét và hiểu về khái niệm khoa học dưới những góc độ khác nhau Vũ Cao Đàm (2011) quan niệm khoa học là một hệ thống tri thức bao gồm tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học; tiếp theo khoa học là một hoạt động xã hội; là một hình thái ý thức xã hội và cuối cùng là một thiết chế xã hội. Phân loại khoa học Phân loại khoa học là sự sắp xếp, phân chia các bộ môn khoa học thành một hệ thống thứ bậc hoặc theo từng nhóm dựa trên những đặc điểm, những bản chất đặc trưng của chúng và mang ý nghĩa ứng dụng nhất định.
Hiện nay có rất nhiều cách để phân loại cụ thể: phân loại theo phương pháp hình thành khoa học bao gồm khoa học tiền nghiệm, khoa học hậu nghiệm, khoa học phân lập, khoa học tích hợp; phân loại theo đối tượng nghiên cứu khoa học gồm có 6 nhóm nhỏ như Khoa học chính xác, Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Khoa học nông 7 nghiệp, Khoa học sức khỏe, Khoa học xã hội và nhân văn, Triết học (Vũ Cao Đàm, 2011). Đồng Thị Thanh Phương và Nguyễn Thị Ngọc An (2012) phân loại khoa học theo đối tượng nghiên cứu và theo tính chất công trình nghiên cứu, chi tiết: Phân loại khoa học theo đối tượng nghiên cứu gồm: Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội. Phân loại khoa học theo tính chất công trình nghiên cứu gồm: Khoa học lí thuyết và Khoa học ứng dụng. Ngoài ra, trong Bảng phân loại lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ (Ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ – BKHCN ngày 04/09/2008 của Bộ KH&CN và đính chính theo Quyết định số 37/QĐ – BKHCN ngày 14/01/2009) khoa học có thể được phân loại thành: Khoa học tự nhiên; Khoa học kĩ thuật và công nghệ; Khoa học Y, Dược; Khoa học nông nghiệp; Khoa học xã hội; Khoa học nhân văn.
Tổng quan nghiên cứu khoa học 2. Khái niệm nghiên cứu khoa học Luật Khoa học và công nghệ Việt Nam (2018) nêu rõ: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu, bản chất, qui luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn”. Vũ Cao Đàm (2011) đưa ra quan điểm sau: “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kĩ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người”. Thêm vào đó, nếu xem xét trên mặt thao tác ông định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá”.
Dương Thiệu Tống (2002) quan niệm rằng: “Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm hiểu có tính hệ thống đạt đến sự hiểu biết được kiểm chứng”. Đồng Thị Thanh Phương và Nguyễn Thị Ngọc An (2012) lập luận: “Nghiên cứu khoa học quá trình tìm kiếm, xem xét, điều tra (có khi cần cả đến 8 thí nghiệm) để từ những dữ liệu đã có (kiến thức, tài liệu, phát minh,…) đạt đến một kết quả mới hơn, cao hơn, giá trị hơn”. Võ Ngọc Ngọc Lan và Nguyễn Văn Tuấn (2012) định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là một quá trình vận dụng các ý tưởng, nguyên lí và sử dụng các phương pháp khoa học, phương pháp tư duy để tìm tòi, khám phá các khái niệm, hiện tượng và sự vật mới, để phát hiện qui luật tự nhiên và xã hội nhằm giải quyết mâu thuẫn nhận thức và hoạt động thực tiễn, để sáng tạo các giải pháp tác động trở lại sự vật, hiện tượng góp phần cải thiện cuộc sống và lao động sản xuất”. Đặc điểm nghiên cứu khoa học Dựa vào hầu hết các định nghĩa, khái niệm được nêu ở phần trên, chúng ta có thể thấy được đặc trưng nổi bật của nghiên cứu khoa học là sự khám phá, phát hiện những qui luật của sự vật, hiện tượng mà khoa học chưa hề đề cập và nghiên cứu đến.
Từ đặc điểm này Vũ Cao Đàm (2011) nhận định rằng trong hoạt động NCKH sẽ có hàng loạt đặc điểm khác biệt mà người nghiên cứu sẽ phải chú ý, quan tâm đến, cụ thể: Tính mới Tính tin cậy Tính thông tin Tính khách quan Tính rủi ro Tính kế thừa Tính cá nhân 2. Phân loại nghiên cứu khoa học Hiện nay có khá nhiều cách để phân loại nghiên cứu khoa học, theo Vũ Cao Đàm (2011) có 3 cách thường được sử dụng để phân loại sau: Phân loại theo chức năng nghiên cứu bao gồm: nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, nghiên cứu giải pháp và nghiên cứu dự báo. Phân loại theo các giai đoạn của nghiên cứu gồm có: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai.1: Quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu (Nguồn: Vũ Cao Đàm, 2011) Phân loại theo phương thức thu thập thông tin gồm: nghiên cứu thư viện, nghiên cứu điền dã và nghiên cứu labo (nghiên cứu thực nghiệm). Phương pháp và qui trình nghiên cứu khoa học Các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản thường được sử dụng là phương pháp diễn giải và phương pháp quy nạp (Vũ Cao Đàm, 2011).
Phương pháp quy nạp: là quá trình suy luận từ các điểm đặc thù riêng biệt đến tổng quát hoặc có thể hiểu đơn giản phương pháp này dựa trên nhận thức các sự vật, hiện tượng riêng lẻ để đưa ra những nguyên lí chung. Phương pháp diễn giải: là quá trình suy luận ngược lại với phương pháp quy nạp, phương pháp này đi từ tổng quát đến đặc thù, vận dụng từ những nguyên lí chung để xem xét những điểm đặc thù riêng biệt. Từ 2 phương pháp cơ bản trên đã hình thành nên các phương pháp khai thác thông tin: Phương pháp tiếp cận thông tin (Tiếp cận hệ thống; Tiếp cận định tính và định lượng; Tiếp cận lịch sử và logic; Tiếp cận cá biệt và so sánh; Tiếp cận phân tích và tổng hợp) và Phương pháp thu thập thông tin (Phương pháp trắc nghiệm; Phương pháp thực nghiệm; Phương pháp phi thực nghiệm; Phương pháp nghiên cứu thông qua tình huống tiêu biểu) (Vũ Cao Đàm, 2011). Trong quá trình nghiên cứu khoa học, bất kể là loại nghiên cứu khoa học nào cũng đều tuân theo trật tự logic xác định bao gồm 6 bước.
Các bước này có 10 quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau, tùy theo trường hợp cụ thể chúng có thể kế tiếp hoặc đan xen với nhau để hình thành một qui trình thống nhất.2: Quy trình nghiên cứu khoa học (Nguồn: Đồng Thị Thanh Phương, Nguyễn Thị Ngọc An, 2012) 2. Lí thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động nghiên cứu khoa học 2. Thuyết kì vọng của Vroom (1964) Vroom (1964) đưa ra Thuyết kì vọng vào năm 1964, học thuyết này trả lời cho câu hỏi tại sao con người có động lực để hoàn thành công việc. Theo Vroom (1964) dựa trên những mong đợi về một kết quả đạt được trong tương lai hoặc sự hấp dẫn của kết quả đó đối với một cá nhân sẽ quyết định hành vi và động lực hành động của chính họ.
Thêm vào đó, Vroom cho rằng yếu tố hiện thực không phải là yếu tố nhất thiết quyết định nên hành vi và động lực làm việc của con người. Thuyết kì vọng của Vroom xoay quanh các mối liên hệ của 3 yếu tố sau: Hấp lực: yếu tố này phản ánh mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người lao động. Thông qua mối quan hệ giữa mục tiêu cá nhân và phần thưởng, khái niệm này được thể hiện một cách rõ ràng và chi tiết. Mối quan tâm đến những kết quả hoặc phần thưởng mà cá nhân đạt được; Sự nỗ lực khuyến khích 11 để thực hiện công việc; Phần thưởng nhận được phải tương xứng với hiệu quả công việc là những nhân tố có ảnh hưởng đến việc đối xử.
Mong đợi: là kì vọng của một cá nhân tin rằng khi nỗ lực trong công việc họ sẽ nhận được kết quả tốt. Các nhân tố như: sự có sẵn của các nguồn lực (con người, thời gian), kỹ năng thực hiện và sự hỗ trợ cần thiết để thực hiện (thông tin, giám sát, định hướng) đều có tác động nhất định đến khái niệm này. Phương tiện: là niềm tin của người lao động rằng khi đạt được kết quả tốt sẽ có phần thưởng xứng đáng. Khái niệm phương tiện được thể hiện thông qua mối quan hệ sâu sắc giữa hành động và phần thưởng.