Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Kết quả nghiên cứu ở nước ngoài Ở phương Tây, Nhà triết học Hy lạp cổ đại Socrates (469–399 TCN) được biết đến với phương pháp “Vấn đáp pháp”, đây là phương pháp phát hiện chân lí bằng tranh luận. “Vấn đáp pháp” có thể hiểu là phương pháp đối thoại, khuyến khích tư duy cá nhân.
Đối lập với trào lưu du giáo Sophia trao truyền tri thức để đổi lấy thù lao, Socrates khéo léo đặt ra một hệ thống những câu hỏi gợi ý để người tham gia tranh luận, rồi liên tiếp dồn họ đến chỗ tự mình mâu thuẫn, đối chọi với quan điểm của mình. Tuy Socrates không tự cho mình là bậc thầy của bất cứ ai nhưng với quan điểm ngày nay có thể nói rằng ông đã chỉ ra vì sao phải tự học và đặc biệt là tự học có đối tác. Ông chỉ là người giúp cho người khác tự nhận ra chân lý bằng chính tư duy của họ. Ngày nay các phương pháp phát vấn, thảo luận nhóm, seminar, thi vấn đáp…thể hiện sự tương tác giữa thầy và trò qua đối thoại.
Giáo viên phải đặt ra câu hỏi khơi gợi để người học tự suy nghĩ tìm tòi, phát hiện ra “chân lý”. [3, 2] Rabelais (1494 -1553), nhà văn, nhà tư tưởng người Pháp, ông không chỉ bàn đến nội dung giáo dục mà còn đề ra các phương pháp giáo dục hiệu quả. Ông cho rằng cần phải học ở mọi nơi, mọi chỗ, học gắn kết với cuộc sống và thực hành. Ông khẳng định nguồn kiến thức quan trọng nhất là sách vở nên phải biết cách “đọc” và đọc là một kỹ năng cần được rèn giũa từ nhỏ.
Như vậy đọc sách cũng chính là cách tự học, làm giàu tri thức cho bản thân. Tư tưởng nhấn mạnh vai trò tích cực chủ động của người học, xem người học là chủ thể của quá trình học tập đã có từ lâu. Thế kỉ XVII, nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc Jan. Comenxki (1590 – 1670) người được xem là cha đẻ của nền Luan van 25 giáo dục cận đại đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục.
Comenxki đã khái quát kinh nghiệm dạy học của loài người và nâng lên đỉnh cao bằng cách đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác dạy học như: Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học vừa sức, đảm bảo tính trực quan, đảm bảo độ vững bền của tri thức, dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, liên tục… Nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị lý luận của nó cho đến ngày nay. Nguyên tắc đã thể hiện quan điểm của ông về các nhiệm vụ mà quá trình dạy học phải đạt được, trong đó có tự học. Tính tích cực của người học thể hiện rõ nét trong quá trình người học tìm tòi, khám phá tri thức đặc biệt là nỗ lực học tập và vươn lên không ngừng. Nhà tâm lý học Nhicôlai Alêchxanđơrôvich Rubakin (1862 - 1946) với tác phẩm “Tự học như thế nào?” Ông đưa ra nhiệm vụ của thanh niên là phải phấn đấu học tập nâng cao kiến thức của mình trong nhà trường cũng như sau khi ra trường.
Trong cuộc sống rất cần kiến thức chuyên môn, phải có một nghề nhất định để sống và góp phần vào việc tạo ra của cải cho xã hội để tồn tại. Nhưng để phân biệt những vấn đề xảy ra xung quanh thì lại cần đến kiến thức chung bằng con đường tự học. Tự học không chỉ là xem sách mà phải biết so sánh cái viết trong sách với thực tế cuộc sống. Để học thì phải đọc sách.Rubakin “Vũ khí chính trong công tác tự học là sách.” [2, 1] Ông khuyên nên luyện cho mình có lòng ham mê học và đọc sách, càng đọc được nhiều càng tốt.
Phải biết đối chiếu kiến thức đã học với chương trình chung của khoa học mà sách đề cập tới. Ông cho rằng, nhìn và nhớ không phải đã đủ trong phương pháp đọc sách, mà phải biết rung động trước từng câu từng chữ, biết biến chúng thành vật sống trong mối quan hệ chung. Ông cũng cho rằng, nên đọc sách văn học gắn liền với sách khoa học kỹ thuật, cái nọ bổ sung kiến thức cho cái kia. Rubakin kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời - đó chính là phương pháp tự học.” [25, 7] Tiến sĩ Maria Montessori (1879 – 1952) là một nhà giáo dục người Ý với phương pháp giáo dục Montessori.
Đây là phương pháp giáo dục trực quan, dành cho trẻ sự tự do quan sát và sáng tạo trong học tập. Bà viết tác phẩm “Trẻ tự học”, nêu ra các nét chính của phương pháp giáo dục Montessori. Có thể nói Montessori đã quan tâm Luan van 26 đến vấn đề tự học của người học nói chung và trẻ nhỏ nói riêng. Ngay từ nhỏ phải tập cho trẻ cách học để hình thành nhân cách sau này.
John Dewey (1859 - 1952) là nhà triết học, tâm lý học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ. Dewey là một trong những người đầu tiên phát triển triết học về chủ nghĩa thực dụng và là một trong những người sáng lập tâm lý học chức năng, các ý tưởng của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới giáo dục và cải cách xã hội. Tác phẩm “Dân chủ và Giáo dục” đề cập đến quá trình học của người học và tầm quan trọng của tư duy trong giáo dục. Nêu ra bài học giáo dục phải kích thích tự tư duy của người học “Sự truyền đạt có thể kích thích người kia (người nghe) tự mình hiểu ra vấn đề đang được nói đến và suy luận ra một ý niệm tương tự (như ý niệm người nói ra suy nghĩ), hoặc sự truyền đạt ấy có thể bóp nghẹt hứng thú trí tuệ của người nghe và ngăn cản ý niệm vừa mới chớm xuất hiện.
Song cái mà anh ta trực tiếp nhận được, không thể là một sự hiểu biết. Chỉ có vật lộn với những điều kiện của vấn đề đang phải giải quyết, tìm kiếm và tìm ra cách giải quyết của chính mình, anh ta mới tư duy” [7, 194]. Ngoài những kiến thức được cung cấp ở nhà trường, người học phải tự tìm tòi thêm kinh nghiệm thực tiễn. Tư tưởng của Dewey muốn bổ sung kiến thức cho học sinh ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh kể cả những hoạt động gắn với đời sống; dạy học không chỉ là công việc truyền thụ một khối kiến thức mà còn là sự phát triển một số kĩ năng cho người học.
Một phương châm nổi tiếng của Dewey được xem như một sự cách tân của thế giới sư phạm là “Học sinh là mặt trời xung quanh nơi hội tụ mọi phương tiện giáo dục.” [15, 8] Lý thuyết học sinh là trung tâm là một khuynh hướng tiến bộ lành mạnh nhằm giải phóng năng lực sáng tạo của người học sinh. Có thể nhận thấy các nhà giáo dục phương Tây có những quan điểm về tự học là phải tự tìm tòi, tự tư duy và giải đáp những thắc mắc để trau dồi kiến thức cho bản thân không những trong sách vở mà còn ở đời sống thực tiễn. Giáo viên có vai trò hướng dẫn, tạo động cơ, khuyến khích quá trình tự học của học sinh. Ở phương Đông, ngay Thời cổ đại, vấn đề tự học tuy không được đề cập trực tiếp mà chỉ được đề cập đến ở mức độ tự tìm tòi, khám phá, trang bị tri thức cho bản thân.
Luan van 27 Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên), nhà giáo dục kiệt xuất của Trung Hoa luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ của người học. Khi nói về cách học, ông cho rằng cách học đúng là: “Học và suy nghĩ phải phù hợp với nhau và coi trọng cả hai”. [11, 4] Ta có thể hiểu rằng học là phải tư duy và phải suy nghĩ về những điều đã học và vận dụng vào cuộc sống. Fukuzawa Yukichi (tên dịch ra tiếng Việt là Phúc Trạch Dụ Cát, 1835 – 1901) là nhà tư tưởng tiến bộ, nhà giáo dục có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai Sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Trong tác phẩm “Khuyến học” (1872-1876) đề cập đến tinh thần cơ bản của con người và mục đích của học vấn. Ông nhận định “Đọc sách là phương tiện nâng cao học vấn” [26, 88]. “Để trở thành người dẫn đường chỉ lối, để đưa tinh thần của mọi người trong xã hội lên tầm cao hơn, để dạy được những điều hay trong học vấn cho mọi người, thì hơn hết thảy mọi việc nào khác, trước hết các bạn phải cố gắng phấn đấu trong sự nghiệp học tập.” [26, 143] Thông điệp về giáo dục của UNESCO trong thế kỷ XXI là: Học để biết, học để làm, học để làm người và học để cùng chung sống. Trong xu thế toàn cầu hoá, xây dựng một nền giáo dục “mọi người đều được học và học suốt đời”.
Học suốt đời là một quan điểm về giáo dục, được coi như một bước nhảy vọt về chất trong sự phát triển của giáo dục thế kỷ 21. Cốt lõi để học tập suốt đời có hiệu quả là mỗi con người phải “học cách học”. “Học cách học” chính là làm thế nào để phát huy năng lực tự học của người học, để học tập hiệu quả. Tóm lại, qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học, dạy cách học, phương pháp dạy học, năng lực tự học, hoạt động tự học của các tác giả trên thế giới thì tự học là cần thiết đối với tất cả mọi người.
Vấn đề tự học của học sinh nói chung và sinh viên đại học nói riêng được quan tâm dưới nhiều góc độ như phát huy năng lực học tập độc lập, tích cực của người học, phương pháp dạy học lấy người học làm trung tâm, vấn đề đọc sách trong tự học… nhằm mục tiêu phát triển giáo dục vì giáo dục là quốc sách hàng đầu để phát triển đất nước. Kết quả nghiên cứu ở trong nước Luan van 28 Ở Việt Nam, hoạt động tự học của người học qua các giai đoạn lịch sử không được quan tâm như nhau do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội… Nền giáo dục phong kiến đã tạo lập theo cách học thuộc lòng một cách thụ động chứ không theo cách học sáng tạo. Cách học này trước hết là học thuộc chữ, sau đó giải thích những chữ đó cũng phải theo cách người trước đã giải thích, chỉ có một cách duy nhất học thuộc lòng, chứ không có cách giải thích khác theo cách hiểu cá nhân.