CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÝ LUẬN VÈ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP • NHỎ VÀ VỪA 1. NHỮNG VẤN ĐÈ c ơ BẢN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐÓI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Khái niệm doanh nghiệp: Doanh nghiệp là một tổ chức kinh doanh, có tư cách pháp nhân, thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng trao đổi hàng hoá trên thị trường theo nguyên tắc tối đa hoá lợi ích kinh tế của người chủ sở hữu về tài sản của doanh nghiệp, thông qua đó tối đa hoá lợi ích của đối tượng tiêu dùng và kết hợp một cách hợp lý với những mục tiêu xã hội.
Như vậy, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện một, một sổ hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật cuả Việt Nam cho rằng khái niệm DNW N và sau đó khái niệm doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ được du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Vấn đề tiêu chí doanh nghiệp vừa, nhỏ, cực nhỏ là trung tâm cuả nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển cuả khu vực này trong nhiều năm qua.
Định nghĩa về DNVVN, doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ phải dựa trước tiên vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường đó là tiêu chí về số công nhân, vốn đăng kí, doanh thu. Cách tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chương trình phát triển khác nhau. 5 Nghị định số 90/2001/NĐ ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đã đưa ra tiêu chí cụ thể xác định DNN&V ở nước ta: vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng, hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người.
Ở Việt Nam để giải quyết vấn đề định nghĩa này một phần nào, công văn số 681/CP-KTN đã ban hành ngày 20/6/1998 theo đó DNW N là doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và số vốn kinh doanh dưới 5 tỷ đồng. Tiêu chí này đặt ra nhằm xây dựng một bức tranh chung về doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam phục vụ cho việc hoạch định chính sách. Trên thực tế tiêu chí này không cho phép phân biệt các doanh nghiệp vừa, nhỏ, cực nhỏ. Ngày 30 tháng 6 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị định sổ 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNW N thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 11 năm 2001 cuả Chính phủ.
Nghị định 56/2009/NĐ-CP đã đưa ra định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đổi kế toán cuả doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ khu vực Ẵ Số lao Tông Số lao Tông Số lao •7 rp động nguồn vốn động nguồn vốn động I. Nông, từ trên 10 từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng lâm nghiệp người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống và thủy sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công từ trên 10 từ trên 20 tỷ Từ trên 200 10 người 20 tỷ đồng nghiệp và người đến đồng đến người đến trở xuống trở xuống xây dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ Từ trên 50 III. Thương 10 người 10 tỷ đồng người đến đồng đến 50 người đến mại và dịch vụ trở xuống trở xuống 50 người tỷ đồng 100 người 6 1.
Đặc trưng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa *1* Đặc trưng chung của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Thứ nhất: Tạo lập dễ dàng hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp. Đẻ thành lập một DNN&V chỉ cần vốn đầu tư ban đầu tương đối ít, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, qui mô nhà xưởng không lớn. Điều đó giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí cố định, tận dụng lao động thay thế. Thứ hai: Năng động nhạy bén và dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường.
Với quy mô nhỏ và vừa, bộ máy quản lý gọn nhẹ nó dễ dàng tìm kiếm và đáp ứng những yêu cầu có hạn trong trong những thị trường chuyên môn hoá. Mặt khác, DNN&V thường có mối liên hệ trực tiếp hơn với thị trường và người tiêu thụ nên sự phản ứng của nó với thị trường nhanh hơn, nhạy hơn, có thể nhanh chóng cải tiến thay đổi và tạo ra sản phẩm mới, tạo ra được đa dạng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Với cơ sở vật chất kỹ thuật không lớn, doanh nghiệp này đổi mới linh hoạt hơn. Khi thị trường có những bất lợi nó dễ dàng thay đổi tình thế có thể chuyển đổi sản xuất hay thu hẹp qui mô mà không gây ra hậu quả nặng nề cho xã hội.
Thứ ba: Có thể duy trì tự do cạnh tranh DNN&V với thiết bị, công nghệ, lao động nói chung không đời hỏi quá cao, có thể sử dụng được nhiều loại lao động có tay nghề trình độ khác nhau hoặc lao động phổ thông. Do vậy thường không có tình trạng độc quyền, các DN dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh-tranh. Chính điều đó làm cho nền kinh tế sống động và thúc đẩy việc sử dụng tối đa các tiềm năng của đất nước. Đây là một ưu thế rất quan trọng của DNN&V.
Thứ tư: Có thể tận dụng phát huy được tiềm lực trong nước. Trong quá trình CNH và HĐH đất nước, sự phát triển DNN&V là cách thức tốt nhất để sản xuất thay thế hàng nhập khẩu vì các DNN&V sử dụng được nhiều nguyên vật liệu tại chỗ, khai thác tối đa lợi thế tiềm năng từng vùng, từng địa phương. 7 Là môi trường rộng rãi có điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài cùng với doanh nghiệp sở tại để hình thành nên các khu công nghiệp, thị trấn, thị tứ, khu công nghiệp, làng nghề, trang trại. nhưng với vốn liếng và trình độ tay nghề khéo léo của mình, một số DNN&V có thể sản xuất một số mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu, phù họp với sức mua của dân chúng.
Thứ năm: Dễ quản lý hơn so với DN lớn vì cơ cấu qui mô nhỏ, gọn nhẹ, ít ảnh hưởng đến môi trường và môi sinh; Thứ sáu: Những hạn chế của DNN&V - Khả năng cạnh tranh thấp do tiềm lực tài chính nhỏ; - Vị thế trên thị trường thấp; - ít có khả năng huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ giá trị cao; - Khả năng hạn hẹp trong việc đào tạo công nhân, đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế cải tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm; - Trong nhiều trường họp thường bị động vì phụ thuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của DN lớn; *t* Đặc trưng của doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay So với đặc điểm của các DNN&V trên thế giới thì DNN&V của Việt Nam có nhũng đặc thù riêng. Nó vừa là kết quả của chính sách phát triển vừa là thực tế của quá trình hoạt động. Một là hình thức sở hữu: Do đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước nên các DNN&V cũng đa hình thức sở hữu. Một sổ DNN&V thuộc sở hữu Nhà nước, một số thuộc sở hữu tập thể, một số thuộc sở hữu tư nhân, một số Công ty cổ phần và một vài doanh nghiệp có vốn liên doanh với nước ngoài.
Hai là hình thức pháp lý: Có loại DNN&V đăng ký kinh doanh theo Luật DN (đó là các DN Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân), đăng ký theo luật HTX là các HTX và là các hộ gia đình 8 đăng ký kinh doanh theo Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày03/2/2000 của Chính phủ Trong điều kiện đặc thù của Việt Nam các hộ kinh doanh nhỏ này rất nhiều. Nếu coi chúng là DNN&V thì sẽ rất khó khăn cho việc thực hiện chính sách ưu tiên vì số lượng quá đông. Nhà nước sẽ không có đủ khả năng để thực hiện chính sách ưu tiên, kiểm soát đánh giá hỗ trợ cùng một lúc. cần phải quy định rõ tiêu thức DN nhỏ với giói hạn tối thiểu để phân biệt rõ giữa kinh tế hộ gia đình và DNN&V.
Ba là lĩnh vực và khu vực hoạt động: Hầu hết các DNN&V hoạt động trong ngành công nghiệp, công nghiệp chế biến thực phẩm, thưcmg mại, dịch vụ đời hỏi ít vốn, quay vòng vốn nhanh. Phần lớn các DNN&V hoạt động ở các vùng đô thị và ven đô, tỷ lệ rất thấp hoạt động ở vùng nông thôn. Việc đầu tư của DNN&V còn nặng vào kinh doanh buôn bán dịch vụ. Đây là một hạn chế trong thực trạng phát triển kinh tế.
Điều đó còn phản ánh sự bất cập của chính sách Nhà nước, chưa hưởng được các nhà đầu tư bỏ tiền vào những lĩnh vực không chỉ mang lại lợi ích cho cá nhân nhà đầu tư mà còn phải mang lại lợi ích chung cho xã hội và toàn bộ nền kinh tế. Bốn là thiết bị công nghệ và thị trường: trình độ công nghệ, trang thiết bị, máy móc của DNN&V Việt Nam phần lớn sử dụng công nghệ lạc hậu, máy móc cũ kỹ (có DN sản xuất công nghiệp vẫn phải sử dụng các thiết bị được sản xuất từ những năm 1960). Đã hạn chế rất lớn khả năng cạnh tranh của các DNN&V. Điều này có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là nguyên nhân khách quan.
Phần lớn các DNN&V được thành lập trong những năm gần đây, tuy mới thành lập nhưng do thiếu vốn, thiếu kỹ năng quản lý cần thiết nên các nhà đầu tư chưa thể mua sắm được trang thiết bị máy móc hiện đại để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm sản xuất ra. Phần lớn máy móc thiết bị cũ, được mua lại từ các DN Nhà nước bị giải thể, thanh lý để đáp ứng nhu cầu trước mắt mà chưa có chiến lược đầu tư trung và dài hạn. Gần đây trong quá 9 trình chuyển đổi đã có nhiều DN đổi mới thiết bị công nghệ.