CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ DNNVV, TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC CẤP TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1.1 DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA (DNNVV) 1.1 Khái niệm DNNVV Về mặt từ ngữ, khái niệm DNNVV gợi ý cho chúng ta tiêu chuẩn về qui mô, kích cỡ, chẳng hạn, một tiệm bánh ngọt nhỏ ở khu phố so sánh với 1 đại công ty chuyên sản xuất bánh ngọt. Có một điều phải thừa nhận rằng trên thực tế, khó có thế có một định nghĩa mang tính phổ quát với lý do là môi trường kinh doanh của các DNNVV thường không đồng nhất và không ổn định. Theo các nhà nghiên cứu cách phân loại truyền thống dựa vào các tiêu chuẩn có thể định lượng được (doanh số, số nhân công, vốn) cũng như các phân loại khác dựa vào phân tích các đặc điểm liên quan đến “hộp đen” của DN như vấn đề sở hữu, chiến lược, mục tiêu của nhà điều hành, cấu trúc tổ chức, quan hệ với thị trường… 1.2 Phân loại DNNVV 1.1 Phân loại theo tiếp cận định lượng Cách phân loại này sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho các cuộc nghiên cứu thực nghiệm nhưng các nhà chuyên môn lại cho rằng nó không đầy đủ để phân biệt với các DN lớn. Theo quan niệm của Ngân hàng thế giới (WB), DNNVV là những DN có qui mô nhỏ bé về phương diện vốn, lao động hay doanh thu.
DNNVV có thể chia thành 3 loại cũng căn cứ vào qui mô đó là DN siêu nhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa. Trong đó, DN siêu nhỏ là DN có số lượng lao động dưới 10 người, DN nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến 50 người, còn DN vừa có từ 50 đến 300 lao động. Ở Pháp, từ thời kỳ sau Chiến tranh Thế giới lần 2, người ta có thói quen gọi DNNVV là các DN có từ 10 đến dưới 500 nhân công. Cũng ở Pháp, các doanh nghiệp thật nhỏ là những DN có từ 10-19 nhân công.
Mở rộng hơn, trong khối EU, DNNVV là những DN có dưới 250 nhân công. Còn từ 1-9 là siêu nhỏ, 10-49 là nhỏ và 50-249 là vừa. Khối EU sau đó tiếp tục bổ sung các ngưỡng tài chính để phân loại các DNNVV.1 Phân loại các DNNVV theo khối EU Loại DN Số nhân công Doanh số (triệu Hoặc Tổng tài (không đổi) euro) sản (triệu euro) Vừa < 250 50 43 Nhỏ < 50 10 10 Siêu nhỏ < 10 2 2 Theo Bộ Kinh tế, Tài Chính và Công nghiệp Pháp (MEF), “Không tồn tại một định nghĩa thống nhất về các DNNVV. Các tiêu chí được áp dụng khác nhau tùy theo các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hổ trợ các DNNVV”.
Riêng tại Việt Nam, trước đây, Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ban hành ngày 23 tháng 1 năm 2001 xác định DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người. Như vậy, theo quan niệm của Việt Nam, DNNVV là tập hợp những doanh nghiệp không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các DN có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300 người được coi là DNNVV, và không có tiêu chí xác định cụ thể chi tiết DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Năm 2009, chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển DNNVV và Nghị định này nhằm thay thế Nghị định 90/2001/NĐ- CP. Đối chiếu với Nghị định 90/2001, Nghị định 56/2009 có những điểm mới trong định nghĩa DNNVV.
Cụ thể, Điều 3 của Nghị định định nghĩa: “DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo qui định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo qui mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương với tổng tài sản được xác định trong bản cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên) 3 Bảng 1.2 Phân loại các DNNVV theo khu vực kinh tế DN siêu DN nhỏ DN vừa nhỏ Số lao Tổng vốn Số lao Tổng vốn Số lao động động động I. Nông, 10 người 20 tỷ đồng Từ 10 Từ 20 tỷ Từ 200 lâm, ngư trở xuống trở xuống người đến đến 100 tỷ người đến nghiệp và 200 người đồng 300 người thủy sản II. Công 10 người 20 tỷ đồng Từ 10 Từ 20 tỷ Từ 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đến 100 tỷ người đến xây dựng 200 người đồng 300 người III. Thương 10 người 10 tỷ đồng Từ 10 Từ 10 tỷ Từ 30 mại và dịch trở xuống trở xuống người đến đến 50 tỷ người đến vụ 50 người đồng 100 người Từ bảng phân loại ta có thể thấy rằng theo Nghị định 56/2009, DNNVV được phân chia dựa theo các tiêu chí: quy mô về vốn, qui mô về số lao động và khu vực kinh tế.
Trong đó qui mô về nguồn vốn được chú trọng và đây cũng chính là sự bất hợp lý trong cách phân loại mới này. Bởi lẻ, tổng nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn huy động dưới các hình thức và cấu trúc khác nhau. So với các DN lớn, vốn chủ sở hữu của DNNVV thường có tính ổn định hơn, trong khi đó nợ và các khoản phải trả cấu thành phần còn lại của nguồn vốn thì thường xuyên biến động, tùy theo những đặc điểm ngành nghề khác nhau, từ đó, gây ra sự thay đổi của tổng nguồn vốn của DN cũng thường xuyên biến động. Một DN được xếp vào loại “nhỏ” ngày hôm nay, nhưng một tuần sau đó, có thể trở thành một DN “vừa” và ngược lại.
Cũng giống như các quốc gia khác, cách thức phân biệt thành DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa cuối cùng là nhằm để có cơ sở cho việc thực hiện các chính sách hỗ trợ giúp phù hợp. Thế nhưng , các DN “siêu nhỏ”, “nhỏ” và “vừa” lại có thể thay đổi nhanh chóng về tiêu chí tổng nguồn vốn theo thời gian, thì liệu các chính 4 sách trợ giúp sẽ có những thay đổi, điều chỉnh gì cho nhanh chóng và phù hợp? Kế đến, người ta có cảm giác rằng cách phân loại này khó áp dụng trong thi hành. Các cách phân loại định lượng nói trên đơn giản nhưng có những hạn chế như mức độ thâm dụng lao động, số nhân công thường xuyên, bán thời gian, mùa vụ. Hãy xem xét ví dụ, 50 nhân công làm ở một xí nghiệp có công nghệ cao nhưng qui mô hoạt động (vốn, doanh số, lợi nhuận) có thể lớn hơn rất nhiều so với một DN may mặc có 150 nhân công.2 Phân loại theo tiếp cận định tính Phân loại theo tiếp cận định tính nhằm khắc phục nhược điểm của phân loại định lượng, và để cố gắng phân biệt DNNVV với các DN lớn.
Cách phân loại này nhằm mục đích phân tích “hộp đen” của DN bằng cách nghiên cứu các quan hệ của DN với môi trường kinh doanh. Do vậy, tiếp cận này nghiên về quản trị và cấu trúc tổ chức DN hơn. - Vấn đề sở hữu Các DNNVV được tạo lập khá dễ dàng, có thể quản lý theo qui mô hộ gia đình, hoặc quan hệ bạn bè. Để thành lập một DNNVV chỉ cần một số vốn đầu tư ban đầu không lớn.
Hình thức sở hữu ban đầu lại có thể có ảnh hưởng đến cách tổ chức và sự phát triển của DN. Chẳng hạn, các DNNVV mang tính chất gia đình chắc chắn sẽ có phương cách tổ chức và quản lý khác với một công ty cổ phần mà các cổ đông đóng góp vốn không nhất thiết phải là những người thân thuộc. - Chiến lược & mục tiêu: Nhiều nghiên cứu cho thấy các chiến lược thực thi của các nhà lãnh đạo các DNNVV nhằm bảo vệ quyền lợi của mình bằng cách giữ tính độc lập và tự chủ cho DN. Ngay cả mục tiêu lợi nhuận cũng không hẳn giống nhau giữa các DN lớn và các DNNVV.
Các lý do có thể kể ra như sau: + Về mặt lợi nhuận, các DN lớn quan tâm đến các chiến lược dài hạn, trong khi các DNNVV quan tâm đến các chính sách ngắn hạn hơn + Mục tiêu của các chủ lãnh đạo DNNVV không phải dễ gia tăng giá trị DN, mà là gia tăng giá trị gia sản và nhận các quyền lợi cá nhân của họ. 5 - Tăng trưởng và phát triển Lý thuyết về vòng đời DN cho rằng mọi DN gần như đều theo một quá trình tiến triển giống nhau: mới sinh ra với qui mô nhỏ, sau khi trải qua các giai đoạn khác nhau để trở thành các DN lớn, miễn là chúng không bị đào thải giữa chúng. Theo Julien (1994), lý thuyết này đã đặt ra các vấn đề cần phân tích. Một mặt, gần như các DNNVV không hướng đến chiến lược tăng trưởng, Mặt khác, lĩnh vực hoạt động, thị trường, hoàn cảnh cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của DNNVV.
Để phục vụ cho chiến lược dài hạn, DNNVV khó thu hút được các nhà quản lý và lao động giỏi. Do qui mô sản xuất kinh doanh không lớn, tài chính hạn chế và sản phẩm tiêu thụ không nhiều, DNNVV khó có thể trả lương cao cho người lao động, đặc biệt là tìm kiếm nhân tài để phục vụ cho công tác điều hành, quản lý. - Lĩnh vực hoạt động và thị trường Tiêu chí này quan tâm đến các mối quan hệ giữa hành vi chủ DN- nhà điều hành DNNVV, lĩnh vực hoạt động của họ, sản phẩm làm ra, công nghệ sử dụng và các quan hệ với các DN khác, đặc biệt là các DN lớn. DNNVV thường gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin thị trường, tiếp cận công nghệ sản xuất và công nghệ quản lý tiên tiến, do trình độ quản lý của đội ngũ điều hành trong các DNNVV bị hạn chế.
Do đó, các DNNVV thường chỉ quan tâm đến thị trường truyền thống là những khác hàng thường xuyên của mình, không quan tâm đến việc củng cố và mở rộng những thị trường mới. Hoạt động của DNNVV thiếu vững chắc, thiếu liên kết và dễ bị tác động bởi những biến động vĩ mô. Với ưu thế linh hoạt, cơ cấu ngành nghề đa dạng, đáp ứng được nhiều nhu cầu của thị trường nhưng khả năng tài chính hạn chế, DNNVV dễ bị tác động của môi trường vĩ mô trên thị trường, như tình hình suy thoái, lạm phát, giá dầu mỏ tăng cao,… trong nền kinh tế dễ gây cho các DNNVV rơi vào tình trạng bế tắc, thậm chí phá sản.