Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ TSG Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty TNHH Thương mai và Dịch vu TSG CHUONG 1: MOT SO VAN DE CƠ BẢN VE HIỆU QUA SỬ DỤNG TAI SAN CUA DOANH NGHIEP 1. Khái quát về tài sản trong doanh nghiệp a. Doanh nghiệp Khái niệm “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tai sản, có trụ sở giao dịch ôn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhăm mục đích sinh lợi.
Doanh nghiệp là một chủ thé kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Trên thực tế, doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: doanh nghiệp, cửa hàng, nhà máy, xí nghiệp, hãng, tô chức kinh doanh,.” — trích giáo trình Tài chính doanh nghiệp — NXB Đại học Kinh tế Quốc dân - 2019. “Các loại hình doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường phát triển, các doanh nghiệp tồn tại dưới 3 hình thức chính là kinh doanh cá thể, kinh doanh hợp vốn và công ty: Kinh doanh cá thể Là loại hình kinh doanh chỉ có một chủ sở hữu. Chủ sở hữu bỏ vốn thực hiện kinh doanh, trực tiếp quản lý các hoạt động kinh doanh, hưởng các lợi ích do hoạt động kinh doanh và chịu mọi rủi ro từ hoạt động kinh doanh đó.
Kinh doanh hợp vốn Là loại hình doanh nghiệp do một số người góp vốn, họ cùng đứng ra tổ chức quản lý quá trình kinh doanh, cùng nhau chia lợi ích cũng như rủi ro từ hoạt động kinh doanh. Công ty Là loại hình doanh nghiệp được tô chức cao nhất được hình thành bằng vốn góp của nhiều chủ sở hữu khác nhau mà hầu hết không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động kinh doanh. Các chủ sở hữu của công ty được hưởng toàn bộ lợi ích từ hoạt động kinh doanh của công ty mang lại nhưng chỉ chịu rủi ro giới hạn ở phần vốn góp (trách nhiệm hữu hạn). Ở Việt Nam, các doanh nghiệp bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty liên doanh, công ty nước ngoài,.
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và quan lý hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động công ích nham thực hiện các mục tiêu kinh tê xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Công ty cô phan là công ty, trong đó: - Số thành viên gọi là cô đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là 7 người. - Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phan bang nhau gọi là cô phan.
Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thé mua một hoặc nhiều cổ phiếu. - Cổ phiếu được phát hành có ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi ^ tên.
- Cô phiếu không ghi tên được tự do chuyền nhượng. Cổ phiếu có ghi tên chi được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của hội đồng quản trị. Riêng số cỗ phiếu của thành viên hội đồng quản trị không được chuyển nhượng trong suốt thời gian tại chức và trong thời gian hai năm ké từ ngày thôi giữ chức thành viên hội đồng quản trị. Công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty trong đó: - Phần vốn góp của tất cả các thành viên phải được đóng đủ ngay khi thành lập công ty.
Các phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ công ty. Công ty không được phép phát hành bat kỳ một loại chứng khoán nao. - Việc chuyên nhượng vốn góp giữa các thành viên được thực hiện tự do. Việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người không phải là thành viên phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3⁄4 số vốn điều lệ của công ty.
Công ty liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Mỗi bên liên doanh chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào vốn pháp định của doanh nghiệp. Đây là hình thức doanh nghiệp thực sự đem lại nhiêu lợi thê cho cả nhà đâu tư Việt Nam và nhà đâu tư nước ngoài. Đôi 4 với các nhà đầu tư Việt Nam, khi tham gia doanh nghiệp liên doanh, ngoài việc hưởng phan phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp, nhà dau tư Việt Nam còn có điều kiện tiếp cận với công nghệ hiện đại, phong cách và trình độ quản lý kinh tế tiên tiến.
Đối với bên nước ngoài, lợi thé được hưởng là được bảo đảm kha năng thành công cao hơn do môi trường kinh doanh, pháp lý hoàn toàn xa lạ nếu không có bên Việt Nam thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, hình thức doanh nghiệp liên doanh cũng có bat lợi là có sự ràng buộc chặt chẽ trong một pháp nhân chung giữa các bên hoàn toàn khác nhau không chỉ về ngôn ngữ mà còn về truyền thống, phong tục, tập quán, phong cách kinh doanh, do vậy có thé phát sinh những mâu thuẫn không dễ gì giải quyết. Công ty nước ngoài là các doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu của các tổ chức, các nhân người nước ngoài, đầu tư thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam.” — trích giáo trình Lý thuyết tài chính tiền tệ - NXB đại học Kinh tế Quốc dân — 2019. Tài sản trong doanh nghiêp Khái niệm tài sản của doanh nghiệp “Tài sản (Assets) là các nguồn lực kinh tế được kỳ vọng là sẽ tạo ra dòng ngân lưu hoặc sẽ giúp làm giảm dòng ngân lưu ra trong tương lai, là tất cả những tài sản có giá trị bao gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình gắn với những lợi ích trong tương lai của doanh nghiệp và thỏa mãn các đặc trưng: Tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát của doanh nghiệp mà doanh nghiệp kỳ vọng sử dụng tài sản này trong hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ làm tạo ra lợi ích kinh tế trong tương lai và được đo lường bang thước do giá trị.” — trích giáo trình Nguyên lý kế toán — TS.
Phan Đức Dũng - NXB Thống kê. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Có nhiều cách phân loại tài sản tại doanh nghiệp: theo thời gian thu hồi/ sử dụng (tài sản ngắn hạn/ tài sản dai han), theo hình thái tồn tại (tài sản hữu hình/ tài sản vô hình), theo tính chất vật lý (động sản/ bất động sản), theo tính chất sở hữu (tài sản công/ tài sản tư),.Sự phân chia này mang tính tương đối và thường dan xen với nhau. Trong dé tài nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ TSG, tác giả lựa chọn cách tiếp cận theo cách phân loại tài sản theo thời gian thu hdi/ sử dụng của chúng: “Tài sản ngắn hạn phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngăn hạn khác có thê chuyên đôi thành tiên, có thê bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm: Tiền, các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. Thứ nhất, tiền và các khoản tương đương tiên là chỉ tiêu tong hợp phan ánh toàn bộ số tiền và các khoản tương đương tiền hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo, gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng (không kỳ hạn), tiền đang chuyên và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp.
Thứ hai, đầu tư tài chính ngắn hạn là chỉ tiêu tông hợp phản ánh tông giá trị của các khoản đầu tư ngắn hạn (sau khi đã trừ đi dự phòng giảm giá chứng khoán kinh doanh), bao gồm: Chứng khoán nắm giữ vì mục đích kinh doanh, các khoản đầu tư năm giữ đến ngày đáo hạn và các khoản đầu tư khác có kỳ hạn còn lại không quá 12 tháng ké từ thời điểm báo cáo. Thứ ba, khoản phải thu ngắn hạn: là chỉ tiêu tông hợp phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu ngắn hạn có kỳ hạn thu hồi còn lại không quá 12 tháng hoặc trong một chu kỳ kinh doanh thông thường tại thời điểm báo cáo (sau khi trừ đi dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi), như: Phải thu của khách hàng, trả trước cho người bán, phải thu nội bộ, phải thu theo tiễn độ kế hoạch hợp đồng xây dựng, phải thu về cho vay và phải thu ngắn hạn khác. Thứ tư, hàng ton kho: Là chỉ tiêu tong hợp phản ánh toàn bộ giá trị hiện có các loại hàng tồn kho dự trữ cho quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (sau khi trừ đi dự phòng giảm giá hàng tồn kho) đến thời điểm báo cáo. Thứ năm, tài sản ngắn hạn khác: là chỉ tiêu tông hợp phản ánh tông giá trị các tài sản ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc sử dụng không quá 12 tháng tại thời điểm báo cáo, như chỉ phí trả trước ngắn hạn, thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ, các khoản thuế phải thu, giao dịch mua bán lại trái phiêu Chính phủ và tài sản ngắn hạn khác tại thời điểm báo cáo.
Tài sản dài hạn: là các tài sản có thời hạn thu hồi hoặc sử dụng trên 12 tháng tại thời điểm báo cáo, như: Các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và tài sản dài hạn khác. Các khoản phải thu dài hạn: phản ánh toàn bộ giá trị của các khoản phải thu có kỳ hạn thu hồi trên 12 tháng hoặc hơn một chu kỳ sản xuất, kinh doanh tại thời điểm báo cáo, như: Phải thu của khách hàng, vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc, phải thu nội bộ, phải thu về cho vay, phải thu khác (sau khi trừ đi dự phòng phải thu dài hạn khó doi).