CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Doanh nghiệp được xem là một tế bào của nền kinh tế với nhiệm vụ chính là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Tuy nhiên để có thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có 3 yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động, song song với đó cũng cần phải có các tài sản ngắn hạn. Tài sản ngắn hạn thường được luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm: tài sản bằng tiền, các chứng khoán có tính thanh khoản cao, các khoản phải thu và dự trữ tồn kho.
Do đó, tài sản ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền giá trị những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp mà trên thời gian sử dụng thu hồi luân chuyển thường là một năm hoặc là một chu kỳ kinh doanh. Lê Thị Xuân (2015) đã đưa ra định nghĩa ‘‘Tài sản ngắn hạn là những tài sản có thời gian thu hồi vốn hoặc thanh toán trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp’’. Phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp rất đa dạng và phong phú. Mỗi loại có tính chất và công dụng khác nhau, vì thế nó được phân loại khác nhau tuỳ theo mục đích và tiêu chí áp dụng của nhà quản lý.
Ta có thể phân loại theo một số cách sau: 1. Phân loại dựa vào vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh Căn cứ vào vai trò của tài sản ngắn hạn theo cách phân loại này TSNH bao gồm: Nguyễn Thị Thu Hà 10 Học viện Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp a. Tài sản ngắn hạn dự trữ - Nguyên vật liệu chính hay bán thành phẩm mua ngoài: là những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất sẽ cấu tạo nên thực thể sản phẩm. - Nguyên vật liệu phụ: là những loại vật liệu giúp cho việc hình thành sản phẩm làm cho sản phẩm bền đẹp hơn.
- Nhiên liệu: là những loại dự trữ cho sản xuất có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất như than, củi, xăng dầu… - Phụ tùng thay thế: là giá trị của những chi tiết, phụ tùng, linh kiện máy móc thiết bị dự trữ phục vụ cho việc sửa chữa hoạc thay thế những bộ phận của máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải… - Vật liệu đóng gói: là những vật liệu dùng để đóng gói trong quá trình sản xuất như giấy gói, hộp… - Công cụ lao động nhỏ có thể tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và giữ nguyên hình thái vật chất nhưng giá trị nhỏ, không đủ tiêu chuẩn tài sản cố định. Tài sản ngắn hạn trực tiếp sản xuất Là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: sản phẩm đang chế tạo (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm), các chi phí sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất. Tài sản ngắn hạn lưu thông Bao gồm: thành phẩm sản xuất xong nhập kho được dự trữ cho quá trình tiêu thụ; hàng hóa phải mua từ bên ngoài; hàng gửi bán, thành phẩm đơn vị đã xuất gửi cho khách hàng mà khách hàng chưa chấp nhận, tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, khoản phải thu, đầu tư chúng khoán. Nguyễn Thị Thu Hà 11 Học viện Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp 1.
Tài sản ngắn hạn phân loại theo hình thái biểu hiện a. Tiền và các khoản tương đương tiền Vốn bằng tiền là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh, được hình thành trong quá trình bán hàng và trong các mối quan hệ thanh toán. Vốn bằng tiền bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển và đá quý, vàng bạc. Hoạt động kinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tiền nhất định.
Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, vì vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Đây cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi nên việc nắm giữ tiền mặt ở mức độ nào đó để vừa đảm bảo an toàn, vừa tiết kiệm vốn là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính doanh nghiệp giải quyết, không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán nhưng cũng không quá lớn dẫn đến lãng phí, ứ đọng vốn của doanh nghiệp. Các khoản tương đương tiền: là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh tổng giá trị các khoản đầu tư ngắn hạn (sau khi trừ đi dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn), bao gồm đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác.
Các khoản đầu tư ngắn hạn trong khoản mục này có thời hạn thu hồi vốn dưới một năm hoặc một chu kì kinh doanh, không bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá ba tháng, kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo đã được tính vào “các khoản tương đương tiền”. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. Nguyễn Thị Thu Hà 12 Học viện Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp c. Các khoản phải thu Bao gồm các khoản phải thu khách hàng, phải thu về việc trả trước cho người bán, khoản phải thu nội bộ là các khoản mà doanh nghiệp bị các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp khác chiếm dụng.có thời hạn thanh toán hoặc thu hồi không quá 1 chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp (hoặc 1 năm).
Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, các khoản phải thu chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản do hoạt động mua bán chịu giữa các bên diễn ra thường xuyên. Hàng tồn kho Hàng tồn kho trong khái niệm này không có nghĩa là hàng hóa bị ứ đọng, không bán được mà nó bao gồm toàn bộ hàng hóa vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyên vật liệu dự trữ. Trên thực tế, hàng tồn kho bao gồm hàng trăm loại khác nhau, tuy nhiên, có thể phân thành các nhóm chính sau: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vật liệu bổ trợ, nhiên liệu, thành phẩm, sản phẩm dở dang và bán thành phẩm, công cụ dụng cụ.
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường. Tuy nhiên nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chí nếu sản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽ không thể tiếp tục được nữa đồng thời với việc không hoàn thành được kế hoạch sản xuất. Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức dự trữ an toàn khác nhau.
Nguyễn Thị Thu Hà 13 Học viện Ngân hàng Khóa luận tốt nghiệp e. Tài sản ngắn hạn khác Bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tài sản thiếu chờ xử lý và các khoản thế chấp, kí cược, kí quỹ ngắn hạn khác tại thời điểm báo cáo. Trên thực tế, không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ các khoản mục trên trong bảng cân đối kế toán. Thường thì trong doanh nghiệp chỉ có các khoản chính như: tiền, khoản phải thu, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác.
Vậy nếu doanh nghiệp xác định được cách phân loại phù hợp với mình thì sẽ có ưu thế hơn trong việc bảo tồn, quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn. Tóm lại, tài sản ngắn hạn là bộ phận không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. TSNH tồn tại ở tất cả các khâu, các lĩnh vực trong quá trình sản xuất kinh doanh, đóng vai trò không thể thiếu đối với các doanh nghiệp dù đó là doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Tài sản ngắn hạn là điều kiện để doanh nghiệp đi vào hoạt động.
Do đó, việc quản lý và sử dụng hiệu quả các TSNH là rất quan trọng đối với việc hoàn thành mục tiêu chung của doanh nghiệp. Đặc điểm tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ - sản xuất - lưu thông quá trình này gọi là quá trình tuần hoàn và chu chuyển của tài sản ngắn hạn. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh tài sản ngắn hạn lại thay đổi hình thái biểu hiện. Tài sản ngắn hạn chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm với một giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Như vậy, sau mỗi chu kỳ kinh doanh thì tài sản ngắn hạn hoàn thành 1 vòng chu chuyển.