CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Từ Hội nghị Thượng đỉnh toàn cầu 1992 tại Rio deJaneiro (Brazil) thìrừng cần được quản lýtốt để cung cấp ổn định lâu dài cho con người các lợi ích kinh tế, các lợi ích môi trường vàcác lợi í ch xãhội.
Vấn đề màtoàn thế giới vàtừng quốc gia đều có sự quan tâm đặc biệt làlàm thế nào để quản lýrừng cho tốt để đảm bảo bền vững việc cung cấp tối ưu 3 mặt kinh tế, môi trường, xãhội mà trong đó các giá trị môi trường của rừng đối với con người làkhông thể thay thế được. Ngoài Mỹ, Canada vàmột số nước khác cónhững nghiên cứu về phát triển lâm nghiệp bền vững ở mức độ khác nhau. Bộ trưởng môi trường Indonexia Salim (1991) đã nêu lên những suy nghĩ về phát triển lâm nghiệp bền vững ở Indonexia với chức năng toàn cầu của rừng nhiệt đới. Trong bài viết của Hagglund (1990) Thụy Điển đã ghi lại, lâm nghiệp Canada cho rằng thu nhập lâu dài không phải làchí nh sách lâm nghiệp tổng hợp, sự phát triển tương lai của sách lược lâm nghiệp lâu bền phải có nghĩa là tăng thu nhập chuyển sang phát triển bền vững, khái niệm cái sau bao gồm cái trước.
Squire (1990) cũng xuất phát từ thực tiễn lâm nghiệp bền vững thông qua nghiên cứu lâm nghiệp, chính sách và chăm sóc rừng đã đề ra một khung cải tiến kinh doanh rừng tự nhiên. Tại cuộc họp chuyên gia FAO/CCAD, các chuyên gia từ 7 nước CCAD đã xác định 8 tiêu chuẩn và52 chỉ tiêu ở cấp quốc gia, 4 tiêu chuẩn và40 chỉ tiêu ở cấp vùng cho quản lýrừng bền vững để các nước xem xét. Năm 2004, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) công bố ý định “nâng cao quản lýbền vững các nguồn tài nguyên rừng vàcác hệ sinh thái quan trọng thông qua loại bỏ những hoạt động thiếu bền vững”. Trước đây, quản lý rừng mang tí nh chất tập trung, chủ yếu do nhà nước thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập, không đem lại hiệu quả vě không có sự tham gia của người dân.
Trong khi đó, một trong những nhân tố chính tác động trực tiếp cũng như chịu ảnh hưởng rõrệt của rừng chính là người dân địa phương. Vì vậy theo nhận thức mới, người ta thấy được vai trò, tầm quan trọng của người dân, cộng đồng dân cư trong việc tham gia quản lýtài nguyên rừng. Phương thức quản lýrừng cộng đồng xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ, dần dần biến thái thành các hì nh thức quản lý khác nhau, như lâm nghiệp trang trại, lâm nghiệp xãhội ở Nêpan, Thái Lan, Philippin,… (Trần Ngũ Phương, 1999). Ở Nam Phi, tại Vườn quốc gia Richtersveld việc nghiên cứu tìm ra phương thức quản lý rừng cộng đồng dựa vào hương ước quản lýbảo vệ rừng, trong đó người dân cam kết Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 bảo vệ đa dạng sinh học trên địa phận của mình, còn chính quyền vàban quản lýhỗ trợ người dân xây dựng cơ sở hạ tầng vàcải thiện các điều kiện kinh tế-xãhội khác đã đóng ch cực cho việc thực hiện quản lýrừng tại Vườn quốc gia (Nguyễn Văn Hùng, góp rất tí 2002).
Sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua các chính sách về phát triển kinh tế, xãhội có vai tròrất quan trọng trong công tác quản lýrừng. Một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới hiệu quả của công tác quản lýrừng đó là sự rõràng trong quyền sử dụng, sở hữu rừng và đất rừng đối với người dân. Một số nghiên cứu cho thấy các mối quan hệ truyền thống trong xãhội cóvai tròquan trọng trong việc giải quyết những vấn đề về sở hữu, sử dụng tài nguyên (Laslo Pancel, 1993). Ở Trung Quốc, Chí nh phủ khuyến khích sự tham gia của người dân thông qua hệ thống hợp đồng quản lý đất (dẫn theo Bùi Đức Luân, 2010).
Ngoài ra, thông qua các chí nh sách đất đai cũng đã giải quyết được vấn đề như thúc đẩy kinh tế, bình đẳng vàcông bằng xãhội, bảo vệ môi trường vàsử dụng đất bền vững (Ulrich,1996) (dẫn theo Nguyễn Văn Hùng, 2002).Như vậy, với sự tác động của các bên liên quan trong đó nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất hệ thống chính sách quản lýrừng cùng với mối quan hệ cộng đồng cư dân địa phương đã có những chuyển biến tích cực trong định hướng quản lý rừng vàsử dụng đất bền vững. Như vậy có thể thấy, các công trình nghiên cứu về rừng phòng hộ, đặc dụng nói riêng được thực hiện khá toàn diện, từ việc nghiên cứu xác định loài đến việc xác định các biện pháp lâm sinh tác động. Tuy nhiên, vẫn còn rất ít các công trình nghiên cứu kết hợp giữa các giải pháp lâm sinh với các giải pháp kinh tế - xã hội để đạt được một hệ sinh thái bền vững. Ở Việt Nam Hệ thống rừng đặc dụng, phòng hộ giữ vai tròhết sức quan trọng phòng hộ đầu nguồn, bảo tồn ĐDSH, góp phần quan trọng ứng phóvới biến đổi khíhậu.
Theo Bộ NN- PTNT, các khu rừng rừng đặc dụng, phòng hộ phân bố đều các tỉnh, thành phố từ Bắc đến Nam với 54/63 tỉnh thành cócác khu rừng đặc dụng và59/63 tỉnh córừng phòng hộ, trong đó diện tí ch rừng đặc dụng lớn nhất cả nước làtỉnh Đắk Lắk: diện tí ch 227.818 ha, chiếm gần 10% diện tí ch rừng đặc dụng cả nước. Tỉnh códiện tích rừng đặc dụng nhỏ nhất làtỉnh Bạc Liêu 248,8 ha, chiếm 0,01% diện tí ch cả nước. Tỉnh códiện tích rừng phòng hộ lớn nhất cả nước làtỉnh Nghệ An với diện tí ch 291.071 ha, chiếm 6,3% diện tích rừng phòng hộ cả nước, tỉnh códiện tí ch rừng phòng hộ nhỏ nhất làtỉnh Bắc Ninh 530 ha. Rừng đang được khôi phục vàphát triển nhanh, ổn định cả về số lượng vàchất lượng.
Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, cả nước diện tí ch córừng là14,45 triệu ha, trong đó: rừng đặc dụng 2,15 triệu ha, rừng phòng hộ 4,6 triệu ha, rừng sản xuất 7,7 Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 triệu ha. Tính đến nay, đã có 164 BQL rừng đặc dụng đã được thiết lập, bao gồm: 33 VQG (6 VQG trực thuộc Tổng cục lâm nghiệp: Tam Đảo, Ba Vì, Cúc Phương, Bạch Mã, Yok Đôn, Cát Tiên và 27 BQL VQG trực thuộc UBND tỉnh vàSở NN&PTNT); 57 BQL Khu Dự trữ thiên nhiên, 12 BQL Khu Bảo tồn loài-sinh cảnh và53 BQL Khu bảo vệ cảnh quan do các cơ quan địa phương quản lý; 9 BQL khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học do các đơn vị sự nghiệp quản lý. Rừng phòng hộ cả nước có 231 BQL, trong đó trực thuộc Sở NN-PTNT 153, trực thuộc UBND huyện 55, trực thuộc UBND tỉnh 5 vàtrực thuộc Chi cục kiểm lâm 18 ban quản lý. Trước đây, Luật Bảo vệ vàphát triển rừng tuy đã có nhiều quy định về rừng đặc dụng, phòng hộ, song vẫn còn những hạn chế, nhưng Luật Lâm nghiệp năm 2017 cùng các văn bản hướng dẫn đã đảm bảo cho phát triển lâm nghiệp bền vững theo chuỗi giá trị sản xuất lâm nghiệp, phùhợp về phân hạng, phân loại, bước đầu tạo cơ chế tài chính bền vững phát triển rừng đặc dụng, phòng hộ.
Kiểm soát chặt chẽ chuyển đổi diện tích rừng đặc dụng, phòng hộ sang mục đích sử dụng khác; Đặc biệt, Chỉ thị Số: 13-CT/TW của Ban Bí thư tháng 01/2017 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng cho thấy tầm quan trọng của rừng nói chung vàrừng đặc dụng, phòng hộ nói riêng với tương lai phát triển bền vững của đất nước. Thời gian qua, công tác quản lý, bảo vệ phát triển rừng đặc dụng, phòng hộ đã đạt được một số kết quả đáng nghi nhận như: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã, tạo điều kiện cho Ban quản lýkhu rừng đặc dụng, phòng hộ quản lýhiệu quả công tác QLBVR, Bảo tồn ĐDSH và có tác động tích cực đối với việc bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dãtrong rừng đặc dụng, phòng hộ. Đến nay, 85% các Ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã xây dựng phương án tự chủ, được cơ quan cóthẩm quyền ban hành quyết định phêduyệt vàphân loại mức độ tự chủ. Bước đầu tất cả các BQL đã tự chủ xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ bảo tồn ĐDSH; tự chủ về tài chính, thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công, phát triển dịch vụ DLST vàcác dịch vụ sự nghiệp khác nhằm thu hút các nguồn lực tài chính tăng cường cho công tác BVR, bảo tồn ĐDSH.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như: Mô hình tổ chức quản lýcác Ban quản lý RĐD ở các địa phương chưa thống nhất. CóBQL trực thuộc Sở NN&PTNT, cóBQL trực thuộc UBND tỉnh, cóBQL trực thuộc Chi cục Kiểm lâm. Đội ngũ cán bộ phần lớn chưa được quan tâm và chưa có điều kiện được đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn theo vị trí , việc làm, đặc biệt làcán bộ các ban quản lýrừng đặc dụng. Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị đầu tư cho các khu bảo tồn còn thiếu vàyếu, trang thiết bị chuyên dụng cho lực lượng quản lý, tuần tra, nghiên cứu, theo dõi diễn biến rừng, bảo vệ rừng còn thiếu.
Luan van PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 Tóm lại, những chí nh sách của Đảng, Nhà nước thời gian qua đã đem lại những chuyển biến tí ch cực về công tác quản lý, bảo vệ vàphát triển rừng, tài nguyên rừng được quản lýtốt hơn, đời sống của người dân gắn với rừng từng bước được cải thiện, tạo thêm việc làm góp phần xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước cónhiều vấn đề phức tạp phát sinh cần giải quyết như: nhu cầu sử dụng đất không ngừng tăng trong khi đất sản xuất cógiới hạn không thể tự “phình thêm”, dẫn đến tình trạng người dân phárừng, lấn, chiếm đất lâm nghiệp để lấy đất trồng trọt, canh tác nương rẫy; ngân sách nhà nước không đáp ứng đầy đủ được so với yêu cầu thực tế nên gây khó khăn, hạn chế cho công tác quản lý, bảo vệ vàphát triển rừng của các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng; chính sách hưởng lợi đối với đối tượng được giao rừng, khoán bảo vệ rừng còn bất cập, không phùhợp nên thiếu khả thi trong thực tế vì chưa tạo được động lực mạnh mẽ nhằm khuyến khích người dân tí ch cực tham gia bảo vệ vàphát triển rừng .