phần Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Đặc điểm sự phân hóa và vai trò điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đối với quản lý môi trường ở Hòa Bình Chƣơng 3: Thực trạng môi trường, tình hình quản lý môi trường và các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường tỉnh Hòa Bình 3 z CHƢƠNG 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu theo hƣớng nghiên cứu tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng Cho đến nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu về tài nguyên thiên nhiên và môi trường trên lãnh thổ tỉnh Hòa Bình, cụ thể các nghiên cứu - Nghiên cứu về khí hậu - thủy văn: được đề cập một cách chung nhất trong các nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1975) về khí hậu Việt Nam. Sau đó, đặc điểm khí hậu tỉnh Hòa Bình được đề cập rõ hơn trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền, 2007 [12]; - Nghiên cứu về địa chất, địa mạo và các tai biến: được nghiên cứu từ rất sớm trong các công trình nghiên cứu về những nét cơ bản địa chất cấu trúc của phần Bắc, Trung và Nam Đông Dương của các nhà địa chất Pháp vào những năm đầu thế kỷ XX.
Sau năm 1975, công tác điều tra địa chất và khoáng sản được tiến hành có hệ thống trên cả nước có thể kể đến các công trình của Trần Đức Lương và Nguyễn Xuân Bao (bản đồ địa chất Việt Nam tỉ lệ 1/500. Do đặc điểm địa chất, địa mạo và các điều kiện tự nhiên khác ảnh hưởng đến các tai biến thiên nhiên trên lãnh thổ. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu ở đây, một số công trình như: Đánh giá dự báo các quá trình tai biến thiên nhiên và môi trường miền núi Tây Bắc Việt Nam (Nguyễn Quang Mỹ (chủ trì), Nguyễn Vi Dân, Lại Huy Anh, 1997); Xói mòn đất và tai biến thiên nhiên ở Tây Bắc (Nguyễn Quang Mỹ, Vũ Văn Phái, 1998); Kết hợp viễn thám và hệ thông tin địa lý để dự báo tai biến trượt trọng lực ở tỉnh Hoà Bình (Nguyễn Ngọc Thạch, 2002). Do hoạt động tai biến của tỉnh diễn ra khá phức tạp nên Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, các Sở ban ngành cơ đã sớm phối hợp với các đơn vị có chức năng thực hiện các đề tài như: + Nghiên cứu, đánh giá, xác định các vùng có nguy cơ hoang mạc hóa ở tỉnh Hòa Bình theo các chỉ tiêu khí hậu (Nguyễn Thị Hiền, 2008) + Đánh giá hiện trạng xói mòn bề mặt đất gây suy giảm chất lượng đất trên một số loại hình đất canh tác đặc trưng tại tỉnh Hòa Bình, đề xuất giải pháp khắc phục (Sở Khoa học và công nghệ tỉnh Hòa Bình 2011) - Nghiên cứu về đất: Sử dụng đất trống, đồi núi trọc và bảo vệ rừng (Kỷ yếu Hội nghị khoa học, 1994); Tài nguyên và môi trường đất hoang mạc hóa tỉnh Hòa Bình và các giải pháp ngăn chặn (Nguyễn Bá Nhuận, 2008); - Nghiên cứu về thảm thực vật: Hòa Bình có một thảm thực vật tự nhiên đa dạng, phong phú với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia.
Những nghiên cứu về thực vật của khu vực được đề cập chung nhất trong các công trình nghiên cứu về một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật và những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt 4 z Nam (Trần Ngũ Phương, 1970; Lê Trần Chấn và nnk, 1999; Thái Văn Trừng, 1999; Phan Nguyên Hồng, 1999, [20]). Và được nghiên cứu cụ thể hơn trong Thảm thực vật tỉnh Hòa Bình trong nghiên cứu hoang mạc hóa (Lê Trần Chấn, 2008); - Nghiên cứu về môi trường: Là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, tuy nhiên do đặc điểm sử dụng các nguồn tài nguyên đã gây áp lực tới môi trường. Trong các nghiên cứu đã nói rõ: Tài nguyên và hiện trạng môi trường nước tỉnh Hòa Bình (Phan Thị Thanh Hằng, 2007); Nghiên cứu và dự báo biến động của môi trường và đề xuất các định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng thượng và hạ du thủy điện Hòa Bình (Nguyễn Thượng Hùng, 1995); Ngoài ra, còn có các đề tài nhiệm vụ các sở ban ngành cũng đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường trên địa bàn tỉnh như: + Xây dựng báo cáo Hiện trạng môi trường Đất và Đa dạng sinh học tỉnh Hoà Bình năm 2009 (Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Hòa Bình). Đề tài đã tập trung vào phân tích đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường đất của các loại hình sử dụng đất khác nhau; nguồn tài nguyên sinh vật để đưa ra các giải pháp bảo vệ và bảo tồn các nguồn tài nguyên này.
+ Điều tra, thống kê đánh giá các chỉ tiêu về Tài nguyên - Môi trường và phát triển bền vững tỉnh Hoà Bình (Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Hòa Bình, 2009). Đề tài đã tập trung thống kê, đánh giá các chỉ tiêu cơ bản và có vai trò quan trọng về tài nguyên – môi trường với mục tiêu phát triển bền vững ở tỉnh Hòa Bình. + Báo cáo hiện trạng chất lượng môi trường hàng năm (Sở Tài nguyên và môi trường 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010), Báo cáo môi trường 5 năm 2006-2010 của tỉnh (Sở Tài nguyên và môi trường, 2010), Báo cáo kết quả điều tra và phân tích nước thải trên địa bàn tỉnh phục vụ công tác quản lý và bảo vệ môi trường (Sở Tài nguyên và môi trường, 2008). Các báo cáo không chỉ đưa ra các kết quả phân tích hiện trạng chất lượng môi trường mà còn có giá trị đánh giá diễn biến biến đổi môi trường và tìm hiểu các nguồn thải gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn.
Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa trong việc quản lý và bảo vệ môi trường của tỉnh. Các công trình nghiên cứu theo hƣớng nghiên cứu, đánh giá tổng hợp - Nghiên cứu quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch ngành: mang tính chất định hướng cho phát triển kinh tế - xã hội và các ngành kinh tế. Các định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hòa Bình đều thực hiện dựa vào quy hoạch phát triển kinh tế xã hội đến năm 2010 và định hướng đến 2020 (UBND tỉnh Hòa Bình, 2005); báo cáo quy hoạch sử dụng đất đai tỉnh Hòa Bình thời kỳ 2000- 2010 (Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, 2001). Các quy hoạch ngành cũng được chú trọng, tập trung vào phát triển: ngành nông nghiệp; công nghiệp chung của tỉnh và của các huyện, thành phố; 5 z - Nghiên cứu quy hoạch bảo vệ môi trường: được đề cập đến trong Báo cáo quy hoạch môi trường tỉnh Hòa Bình đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 (Sở Tài nguyên và môi trường, 2008).
Tuy đã đạt một số kết quả tốt, nhưng trong lĩnh vực điều tra, đánh giá tài nguyên môi trường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình còn một số tồn tại như: Phần lớn các đề tài là các nghiên cứu mang tính chất chuyên ngành, nội dung nghiên cứu chỉ chuyên sâu theo từng lĩnh vực riêng biệt mà chưa có được nghiên cứu một cách hệ thống đồng bộ theo quan điểm tổng hợp, liên ngành, phát triển bền vững. Để giải quyết được các hạn chế nêu trên, trong đề tài của luận văn, tác giả đã tiến hành thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu hiện có, điều tra bổ sung những yếu tố tài nguyên, môi trường, liên kết tổng hợp các tài liệu để có được một bộ cơ sở dữ liệu về tài nguyên, môi trường phục vụ công tác quản lý nhà nước về môi trường trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Các nghiên cứu chuyên ngành, các nghiên cứu đánh giá tổng hợp cùng với thực tế địa phương đã định hướng cho đề tài luận văn của tác giả. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG 1.
Cơ sở khoa học về quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng Cơ sở khoa học là cầu nối giữa khoa học với hệ thống tự nhiên - con người - xã hội bao gồm: 1. Cơ sở triết học của Quản lý môi trường (QLMT): Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn "Tự nhiên, con người và xã hội trong đó yếu tố con người giữ vai trò quan trọng. Tính thống nhất của hệ thống "tự nhiên - con người – xã hội" đòi hỏi giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cuội nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó.
Vì chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên - con người – xã hội. Quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội loài người. Với sự xuất hiện nền văn minh trí tuệ, sự thống nhất giữa quan hệ con người - tự nhiên và con người - xã hội được bảo đảm bởi hoạt động trí tuệ con người. Môi trường tự nhiên và hoạt động xã hội được bảo đảm bởi hoạt động trí tuệ con người.
Môi trường tự nhiên và hoạt động xã hội sẽ được duy trì cân bằng một cách hợp lý. Như vậy, để bảo vệ MT sống cần giữ hài hoà quan hệ con người - tự nhiên và con người – xã hội bằng cách đưa thêm vào nền sản xuất vật chất của con người chức năng tái sản xuất tài nguyên thiên nhiên. Mặt khác cần tạo công nghệ mới, công nghệ sạch để chuyển sản xuất của con người thành mắt xích của tự nhiên và xã hội. Để đánh giá chất lượng môi trường sống, cần phải xét đến tiêu chuẩn môi trường trạng thái các hệ sinh thái tự nhiên và sức khoẻ của dân cư sống trong khu vực.
Như 6 z vậy, phải kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu môi trường trong việc hoạch định các chính sách kinh tế. Cơ sở kinh tế của QLMT: được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết xã hội của cải vật chất điều diễn ra với sức ép của sự trao đổi hàng hoá theo giá trị. Loại hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh và ngược lại. Vì vậy, có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát triển sản xuất có lợi cho công tác BVMT.