MỞ ĐẦU Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, kinh tế cũng phát triển, dẫn đến nhu cầu khám và điều trị bệnh gia tăng, số bệnh viện gia tăng. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, hệ thống y tế đặc biệt là các bệnh viện đã thải ra môi trƣờng một lƣợng lớn các chất thải nguy hại. Hiện tại, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trƣờng và xã hội cấp bách ở nƣớc ta, nhiều bệnh viện trở thành nguồn gây ô nhiễm cho môi trƣờng dân cƣ xung quanh, gây dƣ luận trong cộng đồng. Theo tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn, 5% là chất thải độc hại nhƣ chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh, đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môi trƣờng, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tỷ lệ bệnh tật của cộng đồng dân cƣ sống trong vùng tiếp giáp [11].
Ninh Bình là một tỉnh vệ tinh của thủ đô Hà Nội trung tâm của khu vực phía Bắc (chỉ cách Hà Nội 90 km) nên trong những năm qua không chỉ công tác nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh mà đƣợc sự quan tâm của Bộ Y tế, UBND tỉnh đã đầu tƣ nâng cấp chất lƣợng các hệ thống xử lý nƣớc thải, rác thải đặc biệt là tại các bệnh viện có quy mô lớn với lƣợng bệnh nhân thƣờng xuyên cao nhƣ Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình và Bệnh viện sản nhi Ninh Bình. Tuy nhiên nhằm nâng cao chất lƣợng môi trƣờng tại các bệnh viện thì ngoài các hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn còn cần phải có hệ thống quản lý môi trƣờng hiệu quả. Xuất phát từ thực tiễn trên, dƣới sự hƣớng dẫn của thầy giáo TS.Hoàng Anh Lê, tôi tiến hành luận văn: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình”. Mục tiêu chính của luận văn là đánh giá hiện trạng chất lƣợng và công tác quản lý môi trƣờng từ đó đề xuất đƣợc một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý môi trƣờng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với mục tiêu nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các công việc cụ thể nhƣ sau: - Đánh giá đƣợc thực trạng môi trƣờng chất thải rắn và nƣớc thải phát sinh từ bệnh viện. - Đánh giá đƣợc hệ thống quản lý môi trƣờng và công tác đầu tƣ cho hoạt động bảo vệ môi truờng tại bệnh viện. - Đánh giá đƣợc hiểu biết và thái độ của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế bệnh viện trong thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện. - Đề xuất đƣợc các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng công tác quản lý môi trƣờng tại bệnh viện.
Đề tài là một bƣớc tiếp theo cho việc nghiên cứu, điều tra các nguồn gây ô nhiễm của chất thải y tế tác động ảnh hƣởng đến chất lƣợng môi trƣờng của tỉnh Ninh Bình. Ngoài ra đề tài là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học, điều tra về công tác quản lý chất thải y tế bệnh viện và giúp cho các nhà quản lý về môi trƣờng có những chính sách và công tác quản lý môi trƣờng chặt chẽ hơn. Đề tài góp phần đánh giá đƣợc thực trạng chất lƣợng môi trƣờng y tế của bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình. Tìm hiểu đƣợc mức độ ô nhiễm của ngành y tế, đƣa ra những định hƣớng đúng đắn trong công tác quản lý và bảo vệ môi trƣờng.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chất thải y tế 1. Định nghĩa chất thải y tế Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học. Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và khí.
Chất thải y tế thƣờng bao gồm cả các loại chất thải có đặc tính và tác động đối với môi trƣờng sức khoẻ giống nhƣ các chất thải thông thƣờng khác [4]. Để xác định nguồn phát thải, tải lƣợng của chất thải y tế nói chung và tỷ lệ chất thải rắn nguy hại nói riêng có rất nhiều cách đánh giá khác nhau và chƣa thực sự thống nhất. Một cách tiếp cận thuyết phục để có thể dự báo, ƣớc lƣợng chất thải y tế nói chung và số lƣợng hay tỷ lệ chất thải y tế nguy hại nói riêng phải dựa vào các yếu tố nhƣ sau: - Số lƣợng, đặc điểm, phạm vi cứu chữa, qui mô khám bệnh, điều trị của tất cả các cơ sở y tế. - Số lƣợng giƣờng bệnh tại bệnh viện và các cơ sở y tế có giƣờng bệnh từ tuyến huyện và tƣơng đƣơng trở lên bao gồm cả các bệnh viện do ngành y tế quản lý và do các ngành khác quản lý.
- Lƣợng chất thải y tế phát thải mỗi ngày xác định theo giƣờng bệnh (giƣờng bệnh của cấp bệnh viện) mỗi ngày. Trên cơ sở này, có thể áp dụng ƣớc lƣợng khối lƣợng chất thải của bệnh viện cụ thể của khu vực, thậm chí có thể ƣớc lƣợng khối lƣợng chất thải rắn cho phạm vi toàn quốc. Các cơ sở y tế ở Việt Nam chủ yếu thuộc ngành y tế đƣợc tổ chức phân bố theo 4 cấp: - Các cơ sở y tế trực thuộc Bộ Y Tế - Các cơ sở y tế trực thuộc tỉnh. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các cơ sở y tế tuyến huyện.
- Các cơ sở y tế tuyến xã và tƣơng đƣơng. Trong đó, quy mô bệnh viện có từ tuyến huyện gọi là bệnh viện huyện, tuyến tỉnh gọi là bệnh viện tỉnh và tuyến sau cùng là các bệnh viện tuyến Trung Ƣơng. Đa số các bệnh viện của các tuyến là qui mô bệnh viện đa khoa, một số bệnh viện chuyên khoa. Các bệnh viện nêu trên là các cơ sở y tế có giƣờng bệnh, thƣờng xuyên hoạt động khám chữa bệnh và cũng thƣờng xuyên phát thải chất thải rắn y tế [4].
Nguồn và phân loại chất thải y tế Việc phân loại và xác định chất thải y tế của đa số các nƣớc trên thế giới, kể cả các nƣớc trong khu vực cũng nhƣ hƣớng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO) khá nhất quán và nhìn chung đều bao gồm các loại chính nhƣ sau: 1. Nhóm chất thải lây nhiễm Bao gồm 4 phân nhóm khác nhau - Nhóm A: chất thải sắc nhọn: là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lƣỡi dao mổ, đinh mổ, cƣa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế. - Nhóm B: Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. - Nhóm C: Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao : là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm nhƣ: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Nhóm D: Chất thải giải phẫu : bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể ngƣời: rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhóm chất thải hoá học nguy hại Chất thải hoá học nguy hại bao gồm: dƣợc phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng, chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế, chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ ngƣời bệnh đƣợc điều trị bằng hóa trị liệu, chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị) [19]. Nhóm chất thải phóng xạ Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất nhƣ ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm, gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc bị nhiễm các đồng vị phóng xạ.
Nhóm các bình chứa khí nén có áp suất Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt. Nhóm chất thải thông thường Nhóm chất thải này có đặc điểm chung nhƣ chất thải sinh hoạt thông thƣờng phát sinh từ các buồng bệnh, các công việc hành chính, chất thải ngoại cảnh.Thành phần chất thải y tế Chất thải rắn y tế phát sinh trong bệnh viện chủ yếu là do các hoạt động chuyên môn và phụ thuộc vào số giƣờng bệnh, số bệnh nhân nằm điều trị (tỷ lệ sử dụng giƣờng bệnh) và còn một lƣợng chất thải sinh hoạt từ nhân viên y tế trong bệnh viện. Đối với các bệnh viện ở Việt Nam, do đặc điểm có mặt một số lƣợng đáng kể ngƣời nhà bệnh nhân, ngƣời thăm nuôi, một vài dịch vụ khác nhƣ nhà hàng ăn uống, sách, báo.
mà số lƣợng ngƣời vãng lai này khá lớn nhiều khi tƣơng đƣơng với số bệnh nhân nằm viện. Chính hiện trạng này làm cho khối 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lƣợng phát sinh chất thải rắn trong bệnh viện tăng lên, đặc điểm thành phần chất thải bệnh viện cũng thay đổi theo (có thể tăng tỉ lệ khối lƣợng chất thải rắn sinh hoạt). Kết quả này dẫn tới sự quá tải hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn đƣợc thiết kế theo số giƣờng bệnh. Sự quá tải này cũng là nguyên nhân dẫn đến quản lý, thu gom và phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và không tuân thủ các qui định bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng là một tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy hại có thể bị lẫn vô chất thải rắn chung và phát tán ra môi trƣờng bên ngoài, trở thành nguồn gây ô nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trƣờng và sức khoẻ.1: Thành phần chất thải rắn y tế dựa vào đặc tính lý hóa học ( nguồn: WHO’s report ) 1.
Khuynh hướng phát thải chất thải y tế 1.