Chương 1: Tổng quan Chương 2: Mục tiêu, Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu 2. Phương pháp nghiên cứu 2.
Xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá 2. Xác định mức độ quan trọng của các tiêu chí 2. Xác định mức độ tuân thủ của từng hoạt động 2. Công thức tính toan tổng hợp về công tác quản lý môi trường theo từng hoạt động của tiêu chí 2.
Thiết kế thông tin yêu cầu của phiếu điều tra khảo sát Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thực trạng chất thải y tế tại thành phố Hải Phòng 3. Hiện trạng quản lý nước thải y tế 3. Hiện trạng tổ chức triển khai và yêu cầu tuân thủ 3.
Tình hình quản lý chất thải y tế tại thành phố Hải Phòng 3. Phân tích các bất cập và nguyên nhân chủ yếu 3. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế ở Hải Phòng Kết luận và khuyến nghị 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chất thải y tế 1.
Định nghĩa Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế: “chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo. Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng, và dạng khí”. “Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn; dược phẩm; hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế. Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người” [4].
Tính chất của chất thải y tế 1. Tính chất vật lý Thành phần vật lý: - Đồ bông vải sợi: gồm băng gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải… - Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh… - Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm… - Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng… - Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng… - Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc… - Rác rưởi, lá cây, đất đá… Theo kết quả phân tích của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) thành phần chất thải thông thường và chất thải nhiễm khuẩn được trình bày như sau: Thành phần chất thải thông thường (rác sinh hoạt y tế): - Giấy và các loại giấy thấm: 60% - Plastic: 20% - Thực phẩm thừa: 10% - Kim loại thủy tinh và các hợp chất vô cơ: 7% 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các loại hỗn hợp khác: 3% Thành phần của chất thải nhiễm khuẩn là: - Giấy và quần áo: 50-70% - Plastic: 20-60% - Chất dịch: 1-10% Kết quả khảo sát trên 80 bệnh viện trên phạm vi cả nước cho thấy thành phần chất thải rắn y tế như sau [2]: Biểu đồ 1.1: Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa (Nguồn: Kết quả điều tra hợp tác giữa Bộ y tế và WHO 2009) 1. Tính chất hóa học Thành phần hóa học: - Những chất vô cơ, kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất, thuốc thử,… - Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhựa,… Nếu phân tích nguyên tố thì thấy chất thải y tế có những thành phần C, H, O, S, Cl và một phần tro,… Trong đó: - Thành phần hữu cơ: phần vật chất có thể bay hơi sau khi được nung ở nhiệt độ 950oC. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thành phần vô cơ (tro) là phần tro còn lại sau khi nung rác ở 950oC.
Nguồn phát sinh chất thải y tế từ các hoạt động trong bệnh viện Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như: trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu,.; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu,. Hầu hết các CTRYT đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược. Các hoạt động của bệnh viện rất đa dạng và phong phú.
Từ hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm, điều trị, cấp phát thuốc đến nuôi dưỡng, tất cả các hoạt động này đều phát sinh chất thải và các mầm bệnh gây ô nhiễm môi trường. Để quản lý chất thải bệnh viện hiệu quả cần biết rõ nguồn gốc phát sinh chất thải. Cần xác định lượng và loại chất thải phát sinh từ mỗi nguồn để phân bổ chi phí, đưa ra phương pháp thu gom, phân loại ngay từ nguồn một cách hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả và giảm chi phí xử lý chất thải bệnh viện. Dưới đây là sơ đồ nguồn phát sinh chất thải bệnh viện: Hình 1.1: Nguồn phát sinh chất thải bệnh viện 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phân loại chất thải y tế Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau [4]: - Chất thải lây nhiễm - Chất thải hóa học nguy hại - Chất thải phóng xạ - Bình chứa áp suất - Chất thải thông thường 1. Chất thải lây nhiễm - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế. - Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm. Chất thải hóa học nguy hại Chất thải hóa học phát sinh từ các nguồn khác nhau trong các hoạt động của các cơ sở y tế nhưng chủ yếu là từ các phòng xét nghiệm và các hoạt động liên quan như xét nghiệm, vệ sinh, khử khuẩn. Chất thải hóa học có thể ở dạng rắn, lỏng, khí. - Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế. - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu. - Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị). Chất thải phóng xạ Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
Các bình chứa khí có áp suất Các bình chứa khí có áp suất như bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần. Các bình này dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt vì vậy cần thu gom riêng. Chất thải thông thường Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại. - Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim. - Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [4]. Tác động đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời của rác thải y tế 1.
Ảnh hưởng đến môi trường 1. Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường không khí Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra những tác động xấu tới môi trường không khí. Khi phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa chất vào không khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) chúng phát ra các khí độc: HX, NOx, Dioxin, Furan,…từ lò đốt và CH4, NH3, H2S,.
từ bãi chôn lấp. Các khí này 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng dân cư xung quanh. Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường nước Nước thải bệnh viện chứa nhiều mầm bệnh có khả năng lây nhiễm khá cao như Samonella, Shigella, Vibro, Coliform, tụ cầu, liên cầu, Pseudomonas,…Nguy cơ nhiễm virut chủ yếu là virut đường tiêu hóa, virut bại liệt,…nhiễm các kí sinh trùng, amip, trứng giun, và các nấm. Theo thống kê, trên toàn thành phố Hải Phòng mới chỉ có 3/25 bệnh viện đã có hệ thống xử lý nước thải và môi trường nước thải đạt.
Một số CSYT do chưa có kinh phí cho việc xử lý rác thải y tế đã đổ các rác thải y tế xuống các vùng đất trũng hoặc sông suối gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, đặc biệt vào mùa mưa [5]. Phần lớn bãi chôn lấp ở Việt Nam chưa đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh. Đặc biệt, việc chất thải bệnh viện được chôn lẫn chất thải sinh hoạt vẫn còn tồn tại. Nước rác hầu hết vẫn chưa được xử lý gây nguy cơ ô nhiễm nước mặt và nước ngầm.