Chương 1: Dự trữ ngoại hối và hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối Chương 2: Thực trạng quản lý dự trữ ngoại hối và hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý dự trữ ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. 4 CHƢƠNG 1 DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI 1. NỘI DUNG CỦA DỰ TRỮ NGOẠI HỐI VÀ QUẢN LÝ DỰ TRỮ NGOẠI HỐI 1. Nội dung của dự trữ ngoại hối 1.
Khái niệm Dự trữ ngoại hối “Dự trữ ngoại hối quốc gia, thường gọi tắt là dự trữ ngoại hối (vì ngoại tệ là chủ yếu, nên còn gọi là dự trữ ngoại tệ) là lượng ngoại tệ và vàng tiêu chuẩn quốc tế có khả năng sử dụng ngay mà ngân hàng trung ương (NHTW) hoặc cơ quan hữu trách tiền tệ của một quốc gia hay lãnh thổ nắm giữ. Đây là một loại tài sản của một quốc gia được cất giữ dưới dạng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh, tự do chuyển đổi như: Dollar Mỹ, Euro, Yên Nhật, v.v…) và vàng tiêu chuẩn quốc tế.777] Trong cẩm nang Cán cân thanh toán quốc tế, Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF định nghĩa: “Dự trữ ngoại hối của một quốc gia là những tài sản ngoại hối mà Ngân hàng Trung ương quản lý và sử dụng nhằm tài trợ trực tiếp cho thâm hụt cán cân thanh toán hoặc gián tiếp thông qua can thiệp tỷ giá và tài trợ cho một số nhu cầu khác. Hình thức dự trữ ngoại hối Đối với một quốc gia, tài sản ngoại hối bao gồm: Ngoại tệ, Vàng tiền tệ, Quyền rút vốn đặc biệt SDR, Hạn mức dự trữ tại IMF và các tài sản ngoại hối khác. - Ngoại tệ là tất cả các loại đồng tiền của nước ngoài có trong cơ cấu các loại đồng tiền được sử dụng trong dự trữ ngoại hối nhà nước dưới dạng tiền mặt, tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, ủy thác đầu tư, các giấy tờ có giá.
- Vàng tiền tệ là vàng được sử dụng với vai trò là phương tiện thanh toán 5 trong thanh toán quốc tế, thuộc sở hữu quốc gia, do cơ quan chức trách nắm giữ và được sử dụng như một tài sản tài chính. - Quyền rút vốn đặc biệt SDR là đơn vị tiền tệ quy ước của một số nước thành viên của IMF, là đồng tiền ghi sổ, được sử dụng cho mục đích thanh toán sổ sách và không tồn tại dưới dạng vật lý. SDR được IMF phân bổ cho các nước thành viên, đóng vai trò là một bộ phận trong dự trữ quốc tế của các nước thành viên. - Hạn mức dự trữ tại IMF là tổng số các khoản tiền, có thể bằng SDR và các ngoại tệ khác mà một số nước thành viên có thể giải ngân từ IMF bằng một thông báo ngắn, không kèm điều kiện gì và các khoản nợ của IMF sẵn sàng dành cho các nước thành viên trong Thỏa thuận chung về vay nợ (GAB) và các Thỏa thuận cho vay mới (NAB).
Mục tiêu của dự trữ ngoại hối DTNH có vai trò hết sức quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của một nền kinh tế. Về cơ bản, hầu hết các quốc gia duy trì và quản lý DTNH nhà nước nhằm các mục tiêu: là kênh can thiệp thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối; đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ đối với bên ngoài; dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa quốc gia. Cụ thể: Thứ nhất, kênh can thiệp thị trường tiền tệ và thị trường ngoại hối Hỗ trợ và duy trì niềm tin đối với chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá được xem là mục tiêu ưu tiên hàng đầu của DTNH. Là cơ quan đặc trách việc quản lý tiền tệ của một quốc gia, NHTW hoạt động với mục đích ổn định giá trị tiền tệ, kiềm chế lạm phát, ổn định mức cung tiền, kiểm soát lãi suất, ổn định tỷ giá và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ.
DTNH chính là một trong các công cụ đắc lực giúp NHTW hoàn thành tốt vai trò của mình. Việc duy trì một mức dự trữ ngoại hối vừa đủ là cần thiết trong việc 6 bảo vệ giá trị đồng nội tệ trước sự biến động của tỷ giá hối đoái. Trong mỗi chế độ tỷ giá khác nhau, NHTW sử dụng DTNH theo những cách khác nhau để tác động và điều tiết tỷ giá. Trong chế độ tỷ giá hối đoái cố định: - Khi tỷ giá trung tâm thấp hơn tỷ giá thị trường, NHTW có thể thực hiện 2 cách.
Một là, phá giá tiền tệ, điều chỉnh tỷ giá trung tâm lên sát với tỷ giá thị trường. Hai là, bán ngoại tệ ra mua nội tệ vào, đồng thời áp đặt thêm các biện pháp kiểm soát ngoại hối. Phá giá gây ra áp lực lạm phát, ảnh hưởng tới đời sống người dân và làm mất niềm tin vào Chính phủ. Do vậy, Chính phủ các nước thường tìm mọi cách để ngăn ngừa các cuộc phá giá có thể xảy ra.
Theo cách thứ hai thì NHTW các nước sẽ dùng DTNH của mình để bán vào nền kinh tế, làm lượng cung ngoại tệ đối với nền kinh tế tăng lên, đẩy tỷ giá thị trường về gần với tỷ giá trung tâm. - Khi tỷ giá trung tâm cao hơn tỷ giá thị trường Tỷ giá trung tâm cao hơn tỷ giá thị trường, tức là ngoại tệ được định giá cao, nội tệ được định giá thấp. Cung ngoại tệ lúc này sẽ lớn hơn cầu ngoại tệ, nội tệ chịu áp lực lên giá, buộc NHTW phải mua ngoại tệ vào và tung đồng nội tệ ra để duy trì tỷ giá thị trường bằng với tỷ giá trung tâm. Trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: Bản chất của chế độ tỷ giá này là việc tỷ giá tự điều chỉnh để phán ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối, vai trò của NHTW trên thị trường ngoại hối là hoàn toàn trung lập.
NHTW cũng chỉ tham gia trên thị trường với tư cách là một thành viên, mua bán một loại tiền tệ nào đó nhằm phục vụ cho mục đích hoạt động của mình chứ không nhằm can thiệp lên tỷ giá. Vì thế, vai trò thực hiện chính sách tỷ giá của DTNH trong chế độ tỷ giá này cũng không rõ ràng. Trên thực tế, rất ít nước áp dụng chế độ tỷ giá này. Đa phần các nước áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết.
7 Trong chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết: Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết là chế độ, trong đó, NHTW tiến hành can thiệp tích cực trên thị trường ngoại hối nhằm duy trì tỷ giá biến động trong một vùng nhất định. Như vậy, tỷ giá trong chế độ này không cố định mà cũng không tự do biến đổi hoàn toàn. Một mặt tỷ giá được hình thành và biến động theo các lực lượng thị trường, mặt khác, NHTW tích cực can thiệp để giảm sự biến động quá mức của tỷ giá. NHTW sẽ bán ngoại hối từ quỹ DTNH hoặc mua ngoại hối bổ sung cho quỹ DTNH, từ đó đưa cung cầu, tỷ giá thị trường về với mức mục tiêu mà NHTW đề ra.
Khi tiến hành giao dịch trên thị trường ngoại hối, NHTW không những tác động điều chỉnh tỷ giá mà nó còn làm thay đổi lượng tiền cơ sở, vì thế ảnh hưởng đến mục tiêu chính sách tiền tệ. Khi NHTW tiến hành can thiệp mua ngoại tệ, bán nội tệ làm giảm lượng tiền cơ sở. Ngược lại, khi NHTW tiến hành can thiệp mua nội tệ, bán ngoại tệ làm tăng lượng tiền cơ sở. Do đó, giao dịch trên thị trường ngoại hối trở thành một kênh phát hành tiền của NHTW, qua đó có thể ảnh hưởng đến lạm phát, lãi suất, góp phần thực hiện mục tiêu của chính sách tiền tệ.
Thứ hai, đảm bảo phương tiện thanh toán quốc tế Trong mọi nền kinh tế, NHTW luôn là cứu cánh cuối cùng. Khi một nền kinh tế không có khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ đúng hạn, thì NHTW sẽ sử dụng quỹ DTNH để chi trả các khoản này, tránh tối đa những bất ổn cho nền kinh tế. Một quốc gia có DTNH lớn hàm ý rằng, quốc gia đó có khả năng trả nợ cao, đảm bảo đầy đủ nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế và giảm đi rủi ro bị tấn công đầu cơ trên đồng nội tệ. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm cũng nhìn nhận sự ổn định của DTNH như là một chỉ số thể hiện sức mạnh và tầm ảnh hưởng của nền kinh tế trên thị trường tài chính quốc tế.
Thứ ba, dự trữ thanh khoản quốc gia 8 DTNH là phương tiện đảm bảo trước những nguy cơ và tác động của khủng hoảng. Những nước có DTNH đủ lớn sẽ có thể tự chống đỡ cho mình trước những cú sốc kinh tế, giảm mức độ phụ thuộc vào các gói cứu trợ từ cộng đồng quốc tế, như các tổ chức IMF hay WB, không gây ra những hệ lụy về chính trị hay làm giảm vị thế quốc gia. Ngay kể cả những nước không chịu tác động trực tiếp của khủng hoảng, DTNH cũng đóng một vai trò quan trọng, đề phòng trường hợp dòng tư bản bị rút ra đột ngột do khủng hoảng niềm tin đối với các nước đang phát triển. Tự bảo hiểm cho mình bằng DTNH cũng giúp các nước chủ động trong việc khắc phục những thảm họa mang tính quốc gia, không lường trước được như động đất, lũ lụt, sóng thần…hay các bệnh dịch.
Các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ ngoại hối Thứ nhất, thực trạng của tài khoản vãng lai Tài khoản vãng lai là một bộ phận chủ yếu của cán cân thanh toán quốc tế. Trong nền kinh tế mở cửa, mậu dịch càng mở rộng, tình trạng thâm hụt hay thặng dư của cán cân vãng lai càng liên quan mật thiết đến DTNH. Nếu tài khoản vãng lai bị thâm hụt, nhu cầu chi ngoại tệ cho việc NK hàng hóa, dịch vụ lớn, tài khoản vốn không đủ để bù đắp thâm hụt cho tài khoản vãng lai thì nhà nước phải sử dụng nguồn DTNH, khiến cho DTNH giảm. Ngược lại, nếu tài khoản vãng lai thặng dư, khả năng tích lũy ngoại hối cao, góp phần bổ sung nguồn ngoại tệ vào DTNH.
Thứ hai, thực trạng của tài khoản vốn Tài khoản vốn phản ánh các thay đổi luồng vốn quốc tế chảy vào và chảy ra khỏi quốc gia. Nếu tài khoản vốn bị thâm hụt, góp phần làm cán cân tổng thể bị thâm hụt, NHTW phải tiến hành can thiệp bán ngoại tệ ra, làm DTNH giảm.