MỞ ĐẦU Chất thải y tế hiện nay đang là vấn đề cả xã hội quan tâm. Chất thải rắn nguy hại và nƣớc thải y tế nếu không đƣợc quản lý và xử lý đúng cách, có nguy cơ ảnh hƣởng đến sức khỏe và môi trƣờng. Trong thời gian qua, công tác quản lý chất thải y tế ở Việt Nam đã đạt đƣợc nhiều kết quả khả quan tuy nhiên việc quản lý chất thải vẫn còn nhiều bất cập và chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu. Theo số liệu của Bộ Y tế, có khoảng 1.254 bệnh viện các tuyến với tổng lƣợng chất thải rắn phát sinh là khoảng 450 tấn/ngày (trong đó có 47 tấn là chất thải rắn nguy hại).
Tổng lƣợng nƣớc thải y tế phát sinh cần xử lý khoảng 125. Việt Nam đang trong quá trình phát triển đô thị hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển kinh tế của xã hội làm gia tăng nhu cầu khám chữa bệnh đồng thời lƣợng chất thải phát sinh cũng ngày càng tăng lên.Tình trạng quá tải trong các bệnh viện thƣờng xuyên diễn ra, đặc biệt là các bệnh viện tuyến trung ƣơng và tuyến tỉnh. Trong khi đó, công tác quản lý chất thải rắn nguy hại và xử lý nƣớc thải y tế của các bệnh viện còn chƣa hiệu quả do một số nguyên nhân nhƣ thiếu kinh phí chi thƣờng xuyên và năng lực vận hành hệ thống xử lý chất thải chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu.
Hệ thống thu gom và xử lý chất thải vốn đƣợc thiết kế theo số giƣờng bệnh nhƣng bên cạnh lƣợng chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn còn một lƣợng lớn từ các hoạt động thăm nuôi của ngƣời nhà bệnh nhân và các hoạt động dịch vụ khác trong bệnh viện. Chính vì vậy, hệ thống quản lý, xử lý chất thải y tế của các bệnh viện luôn bị quá tải, chất lƣợng và hiệu quả xử lý chất thải cũng bị hạn chế dẫn tới nguy cơ phát tán các yếu tố nguy hại ra môi trƣờng. Bệnh viện đa khoa Hà Đông là cơ sở điều trị tuyến cuối của Hà Tây cũ nay thuộc Bệnh viện Đa khoa tuyến thành phố của Hà Nội với quy mô 570 giƣờng bệnh với số lƣợng bệnh nhân khám bệnh trung bình 500-600 ca mỗi ngày. Hiện nay bệnh viện thƣờng xuyên trong tình trạng quá tải giƣờng bệnh.
Đây là bệnh viện nằm ở nơi tập trung đông dân cƣ nên việc quản lý và xử lý chất thải y tế không đạt yêu cầu sẽ có nguy cơ ảnh hƣởng rất lớn tới sức khỏe và môi trƣờng sống của cộng đồng dân cƣ lân cận. Để đảm bảo đúng các quy định của pháp luật trong lĩnh vực môi 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng, việc quản lý, xử lý chất thải cần tiến hành thƣờng xuyên liên tục. Tuy nhiên trong 7 năm qua từ khi hệ thống xử lý nƣớc thải đƣợc đƣa vào sử dụng tại bệnh viện chƣa từng đƣợc đầu tƣ, nâng cấp sửa chữa, thay mới. Đặc biệt, trong 5 năm gần đây chƣa có nghiên cứu chính thức nào về thực trạng quản lý, xử lý chất thải y tế của BVĐK Hà Đông.
Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đề xuất và đánh giá giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý, xử lý chất thải y tế tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông” với mục tiêu nhƣ sau: Mục tiêu đề tài: Đánh giá hiện trạng phát sinh chất thải rắn, nƣớc thải y tế và hiệu quả công tác quản lý môi trƣờng bệnh viện nhằm đề xuất giải pháp phù hợp tăng cƣờng hiệu quả công tác bảo vệ môi trƣờng của bệnh viện đa khoa Hà Đông. Nội dung nghiên cứu: 1. Khảo sát thực trạng phát sinh và quy trình quản lý chất thải rắn y tế tại BVĐK Hà Đông thông qua bảng kiểm và quan sát thực tế. Khảo sát hiện trạng xả thải và đánh giá hiệu quả của hệ thống thu gom, xử lý nƣớc thải tại BVĐK Hà Đông.
Nghiên cứu các giải pháp quản lý chất thải rắn và nâng cao hiệu quả của công trình xử lý nƣớc thải. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế 1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới Khối lƣợng CTRYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan nhƣ: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy mô bệnh viện, phƣơng pháp, thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân ở các khoa phòng.
Chất thải rắn y tế theo giƣờng bệnh trên thế giới [11] Tổng lƣợng CTRYT nguy hại Tuyến bệnh viện CTRYT(kg/GB) (kg/GB) Bệnh viện trung ƣơng 4,1 - 8,7 0,4 - 1,6 Bệnh viện tỉnh 2,1 - 4,2 0,2 - 1,1 Bệnh viện huyện 0,5 - 1,8 0,1 - 0,4 Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nƣớc đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dƣợc phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao). Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn đƣợc dùng trong điều trị, nghiên cứu.; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể.); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam Theo PGS.
Nguyễn Huy Nga, cả nƣớc có 13.511 cơ sở y tế các loại bao gồm: Bảng 1. Số lƣợng cơ sở y tế theo tuyến tại Việt Nam [11] Số lƣợng cơ sở y tế theo tuyến TT Loại cơ sở y tế Tƣ Cơ sở y Cộng TW Tỉnh Huyện nhân tế ngành 1 Khám chữa bệnh 34 376 740 133 78 1.361 2 Dự phòng 23 356 410 789 3 Đào tạo 14 63 0 77 4 Kinh doanh thuốc 180 180 5 Trạm y tế xã 11.511 Tính chung cả nƣớc, lƣợng chất thải từ các loại hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ y tế phát thải hàng ngày đạt 252 tấn, trong đó có 50 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại. Hai thành phố có tải lƣợng lớn nhất là TP Hồ Chí Minh: 31,3 tấn CTRYT chung và 6,2 tấn CTRYT nguy hại. Tiếp đến là TP Hà Nội : 26,5 tấn CTRYT chung và 5,3 tấn CTRYT nguy hại.
Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm 1998, cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải rắn y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ sở y tế rất khác nhau. Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lƣợng chất thải rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có lƣợng CTRYT phát sinh lớn nhất. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chất thải rắn y tế phát sinh theo giƣờng bệnh tại Việt Nam [11] Tổng lƣợng Tuyến bệnh viện Đơn vị CTRYT nguy hại CTRYT Bệnh viện trung ƣơng (kg/GB) 0,97 0,16 Bệnh viện tỉnh (kg/GB) 0,88 0,14 Bệnh viện huyện (kg/GB) 0,73 0,11 Chung (kg/GB) 0,86 0,14 Theo quy chế quản lý CTYT đƣợc Bộ Y tế quy định tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ban hành ngày 30/11/2007, chất thải trong các cơ sở y tế đƣợc chia thành 5 loại căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại: a) Chất thải lây nhiễm: - Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lƣỡi dao mổ, đinh mổ, cƣa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly. - Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm nhƣ: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm. - Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể ngƣời; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm. b) Chất thải hóa học nguy hại: - Dƣợc phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
- Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ ngƣời bệnh đƣợc điều trị bằng hóa trị liệu. - Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị). c) Chất thải phóng xạ Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất.
d) Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt. e) Chất thải thông thƣờng: Chất thải thông thƣờng là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm: - Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly). - Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế nhƣ các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xƣơng kín.
Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại. - Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim. - Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nguồn phát sinh và đặc tính nƣớc thải y tế 1.