CHƯƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò và yêu cầu của sản xuất rau an toàn 1.1 Khái niệm Khái niệm của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn (BNN&PTNT): “RAT là những sản phẩm rau tươi bao gồm tất cả các loại rau ăn củ, thân, lá, hoa, quả có chất lượng đúng với đặc tính giống của chúng, hàm lượng các hoá chất độc và mức độ nhiễm các sinh vật gây hại ở dưới mức mức tiêu chuẩn cho phép, an toàn cho người tiêu dùng và môi trường”. [5] Theo Đặng Vũ Hoài Nam (2009) RAT là rau được sản xuất, thu hoạch, sơ chế , đóng gói và bảo quản theo qui trình kỹ thuật nhằm đảm bảo các độc tố và các yếu tố vi sinh vật có hại ở dưới mức cho phép. Trong khi đó người nông dân thường hiểu khái niệm RAT là rau phải được phun thuốc đúng cách, người dân được tập huấn về cách trồng RAT, phải có nguồn nước sạch để tưới tiêu, phải có nhà lưới, có nhãn mác, xuất xứ,… Tuy nhiên, tùy theo mức độ hiểu biết của người dân mà quan niệm về RAT của họ cũng có sự khác nhau. Bởi khái niệm của người dân thường là khái niệm không gắn liền với các tiêu chí định lượng và có thể có định lượng nhưng không rõ ràng.
Cùng với đó, người tiêu dùng cũng có quan niệm rau an toàn riêng của họ, đó là những loại rau có nguồn gốc, đảm bảo qui trình kỹ thuật trong sản xuất và vận chuyển. Tuy nhiên, một lần nữa tùy thuộc vào nhóm người tiêu dùng mà cách nhìn nhận của họ cũng có sự khác biệt về rau an toàn. Rõ ràng, có nhiều khái niệm và tiêu chuẩn quy định về rau an toàn và tiêu chuẩn này tùy thuộc vào pháp luật, văn hóa và trình độ phát triển của những nền kinh tế khác nhau. 5 Một tiêu chuẩn của FAO/WHO đưa ra và đã có nhiều nước công nhận trong đó có Việt Nam về RAT như sau: - Sạch, hấp dẫn về hình thức: Tươi, sạch bụi bẩn, tạp chất.
Thu hoạch đúng độ chín khi chất lượng cao nhất, không có sâu bệnh, bao bì hợp vệ sinh. - Sạch, an toàn về chất lượng: Các sản phẩm rau không chứa các dư lượng vượt quá ngưỡng cho phép theo tiêu chuẩn vệ sinh quốc tế bao gồm: + Dư lượng thuốc hóa học (thuốc sâu, thuốc cỏ). + Số lượng vi sinh vật và ký sinh trùng. + Dư lượng đạm nitơrat (NO3) + Dư lượng các kim loại nặng( chì, thủy ngân, kẽm, đồng).
Đặc điểm của sản xuất RAT RAT trước hết là quá trình của sản xuất nông nghiệp, bởi vậy nó có những đặc điểm chung của sản xuất nông nghiệp: đối tượng của sản xuất nông nghiệp là sinh vật, sản xuất phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, phân bố sản xuất không tập trung, sản phẩm vừa tiêu dùng tại chỗ vừa trao đổi trên thị trường, cung về nông sản hàng hóa và cầu về đầu vào có tính thời vụ và sản phẩm nông nghiệp có liên quan chặt chẽ với các doanh nghiệp dịch vụ. Sản xuất rau yêu cầu lao động cao. Sản phẩm là thân, lá, củ có hàm lượng nước cao do vậy khó khăn trong bảo quản, tiêu thụ sản phẩm. Mặt khác trong rau chứa hàm lượng nước tới 80-90% do vậy yêu cầu chế độ nước tưới nghiêm ngặt.
Sản xuất RAT phải tuân thủ theo những quy định nghiêm ngặt từ việc quy hoạch vùng sản xuất, kĩ thuật canh tác, thu hoạch, bảo quản và lưu thông tới người tiêu dùng trên cơ sở điều kiện môi trường và tập quán canh tác từng vùng, chú trọng dựa trên những nguyên tắc về kĩ thuật canh tác sau: - Đất trồng: đất cao, thoát nước, thích hợp sinh trưởng, phát triển cây rau. Vùng trồng rau phải cách ly với khu vực có chất thải công nghiệp, bệnh viện, khu vực chất thải sinh hoạt của thành phố (ít nhất 2km) và khu vực chất thải sinh hoạt của gia đình (ít nhất 200m). 6 - Nước tưới: trong rau xanh nước chứa trên 90%, vì vậy nước tưới ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng sản phẩm, cần sử dụng nước sạch để tưới như nước giếng khoan, nước sông, ao hồ trong, không ô nhiễm. - Giống: sử dụng hạt giống tốt và trồng cây con khỏe mạnh, không có bệnh tật, hạt giống trước khi gieo trồng cần được xử lý hóa chất hoặc nhiệt, cần biết rõ lý lịch, nơi sản xuất hạt giống.
Đối với những giống nhập nội phải qua kiểm dịch thực vật. - Phân bón: không dùng phân hữu cơ còn tươi và nước phân pha loãng bón cho rau, sử dụng các loại phân bón hóa học tùy theo yêu cầu sinh lý của cây và phải kết thúc bón trước khi thu hoạch 7-10 ngày với rau có thời gian sinh trưởng ngắn, 10-12 ngày với rau có thời gian sinh trưởng dài, đối với các loại phân bón lá và các loại chất kích thích sinh trưởng cần sử dụng theo chỉ dẫn, kết thúc phun trước khi thu hoạch 5- 10 ngày. - Bảo vệ thực vật: không sử dụng thuốc hóa học bảo vệ thực vật thuộc nhóm thuốc độc 1 và 2, nếu thấy cần thiết có thể sử dụng thuốc nhóm 3 và 4. Kết thúc phun thuốc hóa học trước khi thu hoạch ít nhất 5-10 ngày.
Ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học (BT, củ đậu…), các chế phẩm thảo mộc, các kí sinh thiên địch để phòng bệnh, áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM). - Thu hoạch, bao gói: rau được thu hoạch đúng độ chín, loại bỏ phần kém chất lượng, rửa sạch bằng nước sạch, để ráo và cho vào bao, túi sạch trước khi mang đi tiêu thụ tại các cửa hàng. Vai trò của rau an toàn a) Vai trò của rau xanh nói chung Việt Nam là một nước nhiệt đới có thể trồng rau quanh năm, ngành rau nước ta đã phát triển từ khá lâu và đóng góp khoảng 3% trong tổng giá trị ngành nông nghiệp. Trong cuộc sống con người rau là thức ăn không thể thiếu, là nguồn cung cấp vitamin phong phú nên nhiều thực phẩm khác không thể thay thế được như các loại vitamin A,B,C,D,E,K, các loại axit hữu cơ và khoáng chất như Ca, P, Fe rất cần cho sự phát triển của cơ thể con người.
Rau không chỉ cung cấp vitamin và khoáng chất 7 mà còn ngăn ngừa bệnh tim mạch, huyết áp và bệnh đường ruột, vitamin C giúp ngăn ngừa ung thư dạ dày. Vitamin D trong rau giàu caroten có thể hạn chế những biến đổi gây ung thư phổi. Đặc biệt khi lương thực và nguồn đạm động vật đã được bảo đảm thì nhu cầu về số lượng và chất lượng về rau xanh càng gia tăng. Người ta xem rau như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ.
Phát triển rau có ý nghĩa lớn về kinh tế - xã hội đó là tạo việc làm, tận dụng lao động, đất và nguồn tài nguyên cho gia đình. Rau là loại cây ngắn ngày cho nên một năm có thể trồng được 2-3 vụ, thậm chí 4-5 vụ. Cây rau còn là loại cây dễ trồng xen, trồng gối vì vậy trồng rau tạo điều kiện tận dụng đất đai, nâng cao hệ số sử dụng đất. Trong quá trình thâm canh một số khâu như chăm sóc, xới đất có thể sử dụng lao động phụ cho nên trồng rau không những tận dụng được đất đai, lao động mà còn tận dụng được những tư liệu sản xuất khác.
Cây rau là cây có giá trị kinh tế cao, 1 ha trồng rau mang lại thu nhập gấp 2-5 lần trồng lúa. Vì vậy trồng rau tạo thu nhập lớn cho nông hộ. Rau còn là nguồn xuất khẩu quan trọng và là nguồn nguyên liệu cho chế biến. sản xuất rau có ý nghĩa trong việc mở rộng quan hệ quốc tế, góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho nền kinh tế quốc dân trên con đường công nghiệp hóa- hiện đại hóa.
Sản xuất rau tạo ra những giá trị hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao như bắp cải, cà chua, ớt… đóng góp 1 phần đáng kể vào sản xuất chung của cả nước và mở rộng quan hệ quốc tế. Sản xuất rau cung cấp nguyên liệu để phát triển ngành công nghiệp thực phẩm nhằm tăng dự trữ, góp phần điều hòa cung trên thị trường, ổn định giá cả, đồng thời để xuất khẩu và tăng giá trị sản phẩm cho cây rau. Tóm lại, sản xuất rau có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng, thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho chế biến và sản phẩm cho xuất khẩu, góp phần tăng sản lượng nông nghiệp, đảm bảo an 8 ninh lương thực quốc gia, tăng thu nhập cho nông dân, giải quyết việc làm cho người lao động, tận dụng đất đai, điều kiện sinh thái. b)Vai trò của RAT Ngoài những vai trò chung giống rau xanh, rau an toàn còn có những vai trò đặc trưng sau: Phát triển sản xuất RAT góp phần bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, người sản xuất, làm giảm thiểu tình trạng ngộ độc thực phẩm; làm thay đổi tập quán sản xuất rau gây ô nhiễm môi trường, độc hại cho người vì thiếu hiểu biết, chạy theo lợi nhuận trước mắt.
Thông qua sản xuất RAT sẽ trang bị người nông dân những kiến thức khoa học, tiếp cận được các tiến bộ kĩ thuật mới, góp phần xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sạch, bền vững, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và thực hiện tốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn. Phát triển sản xuất RAT góp phần giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp theo hướng bền vững, tăng thêm thu nhập cho nông dân, góp phần ổn định xã hội, làm giảm tình trạng bỏ đất nông nghiệp để tìm kiếm việc làm khác ở thành phố có thu nhập bấp bênh, dẫn đến phát sinh các tệ nạn xã hội. Sản xuất RAT theo đúng quy trình kỹ thuật không chỉ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, người sản xuất mà còn bảo vệ thiên địch, bảo vệ cân bằng sinh thái, bảo vệ môi trường, làm cho đất, nước, không khí không bị ô nhiễm do dư lượng của thuốc BVTV. Làm cho hoạt động sản xuất của con người có nghĩa hơn vì “thân thiện với môi trường”.
Sản xuất RAT sẽ tạo được niềm tin đối với người tiêu dùng, tao uy tín và thương hiệu cho sản phẩm rau xanh Việt Nam, kích thích cầu tiêu dùng về rau, tạo mở thị trường tiêu thụ, là hướng sản xuất đang thực sự cần thiết và hết sức đúng đắn hiện nay đối với các hộ nông dân ở vùng trồng rau.