Đặt vấn đề, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp và ý nghĩa của nghiên cứu. Chƣơng 1: Tổng quan về hiệu quả kinh doanh và phân tích hiệu quả kinh doanh. 3 Chƣơng 2: Phân tích thực trạng hiệu quả kinh doanh của công ty TNHH VLXD Trường Thịnh. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty TNHH VLXD Trường Thịnh giai đoạn 2013 – 2018 Kiến nghị Kết luận 4 Chƣơng I: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH 1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh lợi ích đạt được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong suốt quá trình kinh doanh (Bùi Xuân Phong, 2007).
Hiệu quả kinh doanh được xem xét trong cả dài hạn và ngắn hạn theo từng giai đoạn, từng thời kỳ. Doanh nghiệp được coi là đạt được hiệu quả kinh doanh toàn diện khi toàn bộ hoạt động của các bộ phận, các đơn vị đạt hiệu quả và không ảnh hưởng đến hiệu quả chung. Hiệu quả kinh doanh có thể xác định bằng phương pháp định lượng dưới dạng các chỉ tiêu hiệu quả cụ thể có thể tính toán, so sánh được. Lúc này hiệu quả kinh doanh là một phạm trù cụ thể và là biểu hiện trực tiếp của lợi nhuận, doanh thu… (Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, 2007) Ngoài ra, hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình hoạt động kinh doanh nhằm thực hiện được mục tiêu của doanh nghiệp.
Lúc này, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù trừu tượng được xác định bằng phương pháp định tính, phản ánh trình độ và khả năng quản lý, kết hợp các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp (Bùi Xuân Phong, 2007). Hiệu quả kinh doanh được biểu hiện bằng chỉ tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là mục tiêu số một, nó chi phối toàn bộ quá trình kinh doanh. Tóm lại, hiệu quả kinh doanh phản ánh tất cả các mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh như: kết quả kinh doanh, trình độ sản xuất, cơ cấu tổ chức, trình độ quản lý… Hiệu quả kinh doanh là thước đo ngày càng quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh 1.1 Chỉ tiêu về kết quả kinh doanh Tình hình thực hiện chỉ tiêu kinh doanh Tình hình thực hiện chỉ tiêu kinh doanh cho biết doanh nghiệp đã thực hiện mục tiêu đề ra như thế nào và mức độ hoàn thành các kế hoạch, các nhiệm vụ được giao.
Đánh giá tình hình thực hiện chỉ tiêu kinh doanh cho thấy khả năng lãnh đạo và quản trị chiến lược của doanh nghiệp. Doanh thu hoạt động kinh doanh Doanh thu là kết quả biểu hiện khối lượng hàng hóa tiêu thụ về mặt giá trị (đơn vị tiền tệ). Doanh thu là kết quả của quá trình luân chuyển sản phẩm hàng hóa từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và kết thúc một vòng luân chuyển vốn. Có doanh thu mới có vốn để tiến hành tái sản xuất mở rộng, tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Sau quá trình tiêu thụ với kết quả mang lại là giá trị doanh thu. Doanh nghiệp không những thu hồi tổng số chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện được giá trị lao động thặng dư, đây là nguồn thu quan trọng nhằm tích lũy vào ngân sách, vào qũy doanh nghiệp nhằm mở rộng qui mô và nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên. Công thức để tính doanh thu: Doanh thu = Khối lượng hàng hóa tiêu thụ * giá bán Lợi nhuận hoạt động kinh doanh Lợi nhuận tính một cách cơ bản là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí. Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của người lao động mang laị (Bùi Xuân Phong, 2007).
Do đó, lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Nó phản ánh đầy đủ các mặt số lượng và chất lượng của 6 doanh nghiệp, phản ánh kết quả được sử dụng các yếu tố cơ bản của sản xuất như lao động, vật tư, tài sản cố định. Do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phong phú và đa dạng nên lợi nhuận được hình thành từ nhiều bộ phận, hiểu rõ nội dung của từng bộ phận là cơ sở để thực hiện tốt công tác phân tích lợi nhuận. Xét theo nguồn hình thành, lợi nhuận bao gồm các bộ phận sau: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: là lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh thuần của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được tính toán dựa trên cơ sở lợi nhuận gộp từ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho hàng hóa, dịch vụ đã cung cấp trong kỳ báo cáo. Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: phản ánh hiệu quả hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy thu nhập hoạt động tài chính trừ đi các chi phí phát sinh từ hoạt động này.
Lợi nhuận khác: là những khoản lợi nhuận doanh nghiệp không dự tính trước hoặc có dự tính trước nhưng ít có khả năng xảy ra. Những khoản lợi nhuận khác có thể do chủ quan đơn vị hoặc do khách quan đưa tới. Tốc độ tăng trƣởng Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ quan tâm đến sự tồn tại trong từng thời kỳ, mà điều cốt yếu là sự tăng trưởng. Mức độ tăng trưởng quyết định sự tồn tại lâu dài của doanh nghiệp trên thị trường.
Chỉ tiêu về tốc độ tăng trưởng cho thấy doanh nghiệp có đang hoạt động tốt hay không, sự ổn định trong kết quả kinh doanh và khả năng phát triển trong tương lai.2 Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng các yếu tố kinh doanh Hiệu quả sử dụng vốn Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn đánh giá khả năng sử dụng vốn của công ty nhằm đạt được kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có tác dụng đánh giá chất lượng công tác quản lý vốn, chất lượng công tác sản xuất kinh doanh, trên cơ sở đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa kết quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng lao động Sử dụng lao động tốt hay xấu là một yếu tố vô cùng quan trọng làm tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm dịch vụ, làm giảm chi phí, hạ giá thành và tăng lợi nhuận.
Hiệu quả sử dụng lao động được thể hiện trên các mặt số lượng và chất lượng lao động bao gồm: số lượng, kết cấu lao động, thời gian lao động và năng suất lao động.3 Chỉ tiêu về hiệu quả sử dụng chi phí hoạt động kinh doanh Chi phí là các hao phí về nguồn lực để doanh nghiệp đạt được một hoặc những mục tiêu cụ thể. Nói một cách khác, chi phí là số tiền phải trả để thực hiện các hoạt động kinh tế như sản xuất, giao dịch. nhằm mua được các loại hàng hóa, dịch vụ cần thiết cho quá trình sản xuất, kinh doanh. Quản lý chi phí là một yếu tố thiết yếu trong đầu tư và kinh doanh.
Chi phí là yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và các chỉ tiêu khác khi đánh giá hiệu quả kinh doanh. Việc các chi phí được quản lý và sử dụng như thế nào, các đồng vốn bỏ ra hiệu quả đến đâu, có đem lại lợi nhuận và hiệu quả như kế hoạch hay không là điều rất cần thiết phải xem xét.3 Phân tích chung hiệu quả kinh doanh Chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể được tính theo 2 cách: - Tính theo dạng hiệu số: Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra - Chi phí đầu vào Cách tính này đơn giản, thuận lợi, nhưng không phản ánh hết chất lượng kinh doanh cũng như tiềm năng nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ngoài ra nếu theo cách tính này không thể so sánh hiệu quả kinh doanh giữa các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp, không thấy được tiết kiệm hay lãng phí lao động xã hội. - Cách tính theo dạng phân số: Kết qu ả đầu ra Hiệu quả kinh doanh = Chi ph í đầu vào Cách tính này đã khắc phục được những tồn tại khi tính theo dạng hiệu số.
Nó đã tạo điều kiện nghiên cứu hiệu quả kinh doanh một cách toàn diện. Hiệu quả kinh doanh có mối quan hệ với tất cả các yếu tố của quá trình kinh doanh như: vốn, lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động… vì vậy hoạt động kinh doanh chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Chính vì vậy khi phân tích, đánh giá ngoài chỉ tiêu tổng hợp còn phải sử dụng hệ thống chỉ tiêu chi tiết.4 Phân tích chi tiết các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh 1.1 Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu kinh doanh Sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, tiến hành so sánh các chỉ tiêu kỳ phân tích với các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh. Tuỳ theo mục đích yêu cầu để quyết định lựa chọn phân tích các chỉ tiêu kinh doanh như: Chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận, chỉ tiêu chi phí, phát triển khách hàng mới… Để thuận tiện, việc so sánh đối chiếu được thực hiện bằng hình thức bảng, trong đó so sánh chênh lệch giữa chỉ tiêu kế hoạch và chỉ tiêu thực hiện trên cả số liệu tuyệt đối và tương đối.
9 Số tuyệt đối: là số biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế nào đó ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế.