CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh Doanh nghiệp là thuật ngữ có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học. Doanh nghiệp là phương tiện để thực hiện ý tưởng kinh doanh.
Muốn kinh doanh, mỗi người phải chọn lấy cho mình một số những loại hình mad phát luật quy định. Trên thực tế, doanh nghiệp được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như: công ty, nhà máy, xí nghiệp. Về góc độ pháp lý, theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy có thể thấy, tất cả doanh nghiệp trên thị trường đều kinh doanh có mục đích và lợi nhuận rõ ràng, được thực hiện thông qua các hoạt động thực tế.
Hoạt động của doanh nghiệp thể hiện bằng sự tự sản xuất, tiêu thụ sản phẩm hay cung cấp dịch vụ với bản chất là gia tăng vốn trong doanh nghiệp. Quản lý, vận hành doanh nghiệp làm sao để tạo ra giá trị từ những khoản đầu tư là bài toán lớn theo sát doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những câu hỏi bắt buộc luôn đặt ra cho tất cả các nhà quản trị doanh nghiệp.Với mỗi hình thái xã hội khác nhau, những quan hệ xã hội không tương đồng của mỗi một thời kì kinh tế dẫn đến có các quan điểm về khái niệm phạm trù hiệu quả kinh doanh được đánh giá không giống nhau. Quan điểm thứ nhất của “cha đẻ lí luận nghiên cứu thị trường” – Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là kết quả của hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” (Kinh tế thương mại dịch vụ - Nhà xuất bản thống kê). Quan điểm của ông đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh.
Tuy nhiên quan điểm này chỉ đúng trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hiệu quả với tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào. Nhận định của nhà nghiên cứu Adam Smith không giải thích được kết quả kinh doanh tăng do chi phí mở rộng sản xuất tăng hoặc mở rộng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một mức kết quả với chi phí khác nhau, quan điểm này chúng đều có hiệu quả. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là tỉ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí”.
Quan điểm này được xây dựng 4 nhằm so sánh giữa kết quả đạt được với phần chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Quan điểm này đánh giá hiệu quả kinh doanh thông qua phần kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng. Nhược điểm của quan niệm này là không đánh giá hết được toàn bộ hiệu quả hoạt động kinh doanh do công thức chỉ xem xét tới hiệu quả trên cơ sở so sánh chênh lệch tăng thêm của chi phí và kết quả mà không xem xét tới chi phí hay kết quả ban đầu. Quan điểm thứ ba nhận định: “Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”.
Quan điểm này chỉ ra mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh khi gắn liền kết quả với toàn bộ chi phí và coi hiệu quả phản ánh thông qua trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, do đối tượng nghiên cứu là hoạt động kinh doanh nên doanh nghiệp không thể cố định tuyệt đối một trong hai yếu tố chi phí đầu vào hay kết quả đầu ra. Do vậy, quan điểm này không giải thích được mối tương quan giữa lượng và chất của kết quả và chi phí khi chất luôn ổn định và lượng luôn biến đổi. Ngoài ra, quan niệm kinh doanh theo P.Nordhaus thì cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loạt hàng hóa mà không cắt giảm một loạt hàng hóa khác”.
Điều này đề cập tới việc phân bổ nguồn lực, sản xuất trên đường giới hạn nhằm đem lại hiệu quả sản xuất tối đa. Từ những khái niệm trên có thể khái quát khái niệm hiệu quả kinh doanh: Hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, một phạm trù có khả năng phản ánh trình độ doanh nghiệp đang sử dụng nguồn nhân lực. Để từ đó đạt được hiệu quả cao nhất các mục tiêu và kế hoạch kinh doanh được xác định. Nó biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để có kết quả đó, độ chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao.
Trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với lợi nhuận của doanh nghiệp và khả năng đáp ứng về mặt chất lượng của sản phẩm với nhu cầu của thị trường. Bản chất của hiệu quả kinh doanh Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Để đạt được mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu quả của các yếu tố kinh doanh và tiết kiệm mọi chi phí. Vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là đạt kết quả tối đa và tiết kiệm mọi chi phí, hay đạt kết quả tối đa với chi phí 5 nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu.
Chi phí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: chi phí tạo ra nguồn lực và chi phí sử dụng nguồn lực, đồng thời bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua, hay là giá trị của việc hy sinh công việc khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Chi phí cơ hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và phải loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để thấy rõ lợi ích kinh tế thực. Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có hiệu quả hơn.
Thực chất, hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xét trong một kỳ nhất định, tùy theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh. Các chỉ tiêu tài chính phản ánh hiệu quả kinh doanh là cơ sở khoa học để đánh giá trình độ của các nhà quản lý, căn cứ đưa ra quyết định trong tương lai. Tuy nhiên độ chính xác của thông tin từ các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh lại phụ thuộc vào nguồn số liệu, thời gian và không gian phân tích. Trong mô hình kinh tế T-H-T’, khi bỏ ra một đồng vốn ban đầu nhằm đầu tư cho những yếu tố đầu vào, trải qua quá trình sản xuất doanh nghiệp luôn mong từ đồng vốn T ban đầu sẽ trở thành đồng T’ với giá trị cao hơn giá trị đầu tư ban đầu.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh cũng vậy, đó là sự so sánh giữa các yếu tố đầu vào với lợi nhuận thu được sau quá trình kinh doanh. Nó được phản ánh thông qua tình hình sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm khai thác tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp. Các kết quả được tổng hợp, phân tích từ hiệu quả kinh doanh là chứng cứ, cơ sở khoa học để đánh giá trình độ quản lý và kế hoạch, quyết định tương lai. Tùy thuộc vào môi trường phân tích mà độ chính xác của các chỉ tiêu đánh giá lệch chuẩn so với kết quả thực tế.
Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động kinh doanh được khái quát và thể hiện thông qua hai công thức hiệu quả đạt được (dạng thuận) và khả năng đạt được (dạng nghịch). Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện hiệu quả dạng thuận: 𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả đầ𝑢 𝑟𝑎 𝐻𝑖ệ𝑢 𝑞𝑢ả 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ = 𝑌ế𝑢 𝑡ố đầ𝑢 𝑣à𝑜 Công thức chỉ ra một đồng yếu tố đầu vào (chi phí trong quá trình sản xuất kinh doanh như vốn, nhân công, nguyên vật liệu…) tạo ra bao nhiêu đồng kết quả đầu ra (lợi nhuận, doanh thu. trong một kì kinh doanh). Chỉ tiêu từ công thức này 6 cao chứng tỏ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả và chiến lược sản xuất của doanh nghiệp đúng đắn và phù hợp với tình hình của doanh nghiệp.
Tất cả doanh nghiệp khi hoạt động trên thị trường luôn yêu cầu kết quả đầu ra cao với yếu tố đầu vào thấp nhất nhằm thu được lợi ích từ chênh lệch tạo lợi nhuận trong quá trình vận hành DN. Công thức hiệu quả kinh doanh thể hiện hiệu quả dạng thuận: 𝑌ế𝑢 𝑡ố đầ𝑢 𝑣à𝑜 𝐻𝑖ệ𝑢 𝑞𝑢ả 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ = 𝐾ế𝑡 𝑞𝑢ả đầ𝑢 𝑟𝑎 Công thức này cho biết một đồng kết quả đầu ra như doanh thu, lợi nhuận. thì cần bao nhiêu đồng chi phí đầu vào. Kết quả của công thức này tỉ lệ nghịch với công thức trên.
Chỉ tiêu công thức dạng nghịch càng thấp chứng tỏ DN kiểm soát chi phí tốt, lợi nhuận cao, hiệu quả kinh doanh cao. Từ kết quả đánh giá trên, nhà quản trị đánh giá được chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, so sánh hiệu quả giữa các thời kì nhằm phản ánh đúng nguồn lực tiềm tàng để từ đó nâng cao hiệu quả. Tuy nhiên, khi nghiên cứu mối tương quan giữa kết quả đầu ra với các chi phí đầu vào, nhà quản trị luôn gặp khó khăn và kết quả nghiên cứu chỉ mang tính tương đối vì hai chỉ tiêu kết quả và chi phí phức tạp rất khó đánh giá chính xác, do chúng có sự kết hợp và hỗ trợ nhau trong quá trình vận động và thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác tác động trong quá trình hoạt động. Phân loại hiệu quả kinh doanh Nếu như kết quả kinh doanh thể hiện quy mô thu về từ các hoạt động của doanh nghiệp thì hiệu quả kinh doanh phản ánh chất lượng của các khoản thu về trong các điều kiện nhất định với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh phía trước thông qua mức độ biến động và thay đổi của vốn, tài sản như khả năng quay vòng vốn, hàng tồn kho, vòng quay tài sản ngắn hạn. Nhóm chỉ tiêu này quan tâm đến những hoạt động kinh doanh trong quá trình hoạt động theo sát bằng nhữn con số trên sổ sách kế toán.