Chương 1: Cơ sở khoa học về nghiệp vụ kiểm soát hải quan. Chương 2: Phân tích thực trạng công tác kiểm soát hải quan tại các cửa khẩu đường bộ khu vực miền Nam – Việt Nam. Chương 3: Kết luận và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm soát hải quan tại các cửa khẩu đường bộ khu vực miền Nam – Việt Nam. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NGHIỆP VỤ KIỂM SOÁT HẢI QUAN 1.
Tổng quan về công tác kiểm soát hải quan 1. Khái niệm về kiểm soát hải quan Theo Công ước Kyoto của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO), Công ước về đơn giản hóa, hài hòa thủ tục hải quan thì kiểm soát hải quan (Customs Control) "là các biện pháp được cơ quan hải quan tiến hành nhằm đảm bảo thực thi pháp luật hải quan". Khái niệm nay cho thấy nội hàm công tác kiểm soát hải quan rất rộng, bao gồm tất cả các biện pháp nghiệp vụ được hải quan thực hiện nhằm đảm bảo các đối tượng chịu sự quản lý về hải quan tuân thủ các quy định của pháp luật hải quan. Thậm chí ở một số nước là thành viên của WCO, trong một số trường hợp thuật ngữ (Customs Control) còn được dùng với hàm nghĩa "Là việc nhà nước tiến hành các thủ tục, biện pháp cần thiết để đảm bảo hàng hóa, phương tiện được xuất ra hay nhập vào một quốc gia theo đúng quy định của pháp luật hiện hành".
Theo khoản 10, điều 4 Luật hải quan được sửa đổi bổ sung năm 2005 có khái niệm "Kiểm soát hải quan là các biện pháp tuần tra, điều tra hoặc các biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng đề phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi vi phạm khác vi phạm pháp luật hải quan". Khái niệm này nêu được mục đích, biện pháp của kiểm soát hải quan nhưng ., không bao chùm và có độ mở cần thiết như khái niệm của WCO. Qua nghiên cứu khái niệm của Công ước Kyoto của WCO, khái niệm của Luật hải quan Việt Nam và qua thực tế cho thấy: Trước đây, nhất là trước những năm 1990, khi quan hệ kinh tế thương mại của Việt Nam chưa được mở rộng trên thị trường quốc tế thì quan niệm, nhận thức của chúng ta về kiểm soát hải quan chỉ bó hẹp là sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để phòng, chống và xử lý buôn lậu, hành vi vi phạm pháp luật hải quan. Tuy nhiên thực tế hiện tại khi Việt Nam hội nhập sâu rộng toàn diện với quốc tế và khu vực, hòa nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu cần thống nhất khái niệm như 6 sau: Phòng chống buôn lậu (Hay còn gọi là kiểm soát hải quan) là các biện pháp tuần tra, điều tra hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan Hải quan áp dụng đề phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi vi phạm pháp luật hải quan Việt Nam, góp phần đảm bảo cho các đối tượng chịu sự quản lý nhà nước về hải quan phải tuân thủ các quy định của pháp luật hải quan.
Khái niệm về kiểm tra hải quan Theo Luật hải quan Việt Nam, kiểm tra hải quan là việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng từ liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải do cơ quan hải quan thực hiện. Khái niệm về giám sát hải quan Theo Luật hải quan Việt Nam, giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan. Khái niệm về cửa khẩu đƣờng bộ Theo Luật hải quan Việt Nam, cửa khẩu đường bộ được hiểu như là cửa ngõ của một quốc gia mà nơi đó diễn ra các hoạt động xuất cảnh, nhập cảnh, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh và qua lại biên giới quốc gia đối với người, phương tiện, hàng hóa và các tài sản khác. Cửa khẩu đường bộ được thiết lập ở đường bộ, đường thủy, đường sắt liên thông với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Khái niệm về địa bàn hoạt động hải quan Theo Luật hải quan Việt Nam, địa bàn hoạt động hải quan bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga đường sắt liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đãi hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và trên vùng biển thực hiện quyền chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành 7 kiểm tra sau thông quan và các địa bàn hoạt động hải quan khác theo quy định của pháp luật. Trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Chính phủ qui định cụ thể phạm vi địa bàn hoạt động hải quan. Khái niệm về khu kinh tế cửa khẩu Theo Luật hải quan Việt Nam, khu kinh tế cửa khẩu ở Việt Nam là một không gian kinh tế xác định, gắn với cửa khẩu quốc tế hay cửa khẩu chính cửa quốc gia, có dân cư sinh sống và được áp dụng những cơ chế, chính sách phát triển đặc thù, phù hợp với đặc điểm từng địa phương sở tại nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất dựa trên việc qui hoạch, khai thác, sử dụng, phát triển bền vững các nguồn lực, do chính phủ hoặc thủ tướng quyết định thành lập.
Khái niệm buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới 1. Khái niệm buôn lậu: Theo Luật hải quan Việt Nam, buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới hàng hóa, tiền tệ, kim khí quí, đá quí hoặc những vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa, những hàng hóa mà nhà nước cấm xuất khẩu hay nhập khẩu. Khái niệm vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới: Theo Luật hải quan Việt Nam, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới là hành vi đưa hàng hóa ra khỏi hoặc vào biên giới quốc gia một cách trái pháp luật. Khái niệm thông tin hải quan Theo Luật hải quan Việt Nam, thông tin hải quan là tập hợp những thông tin về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; Phương tiện vận xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, tổ chức cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải; Về các thông tin khác liên quan hoạt động hải quan.
Khái niệm thông tin nghiệp vụ hải quan 8 Theo Luật hải quan Việt Nam, thông tin nghiệp vụ hải quan là thông tin hải quan đã được thu thập và xử lý, có độ tin cậy và giá trị sử dụng cao; Được tổ chức, quản lý tập trung, thống nhất thành hệ thống các cơ sở dữ liệu, dựa trên kỹ thuật công nghệ thông tin hiện đại nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về hải quan. Căn cứ vào tính chất, thông tin nghiệp vụ hải quan được phân chia ra các loại như sau: - Thông tin chiến lược: Là thông tin nghiệp vụ phục vụ cho các nhà làm chính sách trong việc định hướng và đảm bảo thực hiện các mục đích, mục tiêu, kế hoạch và chính sách quản lý nhà nước về hải quan. - Thông tin chiến lược tác động ở tầm vĩ mô, nó có ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách cũng như bố trí cơ cấu nguồn nhân lực, vật lực của toàn ngành hải quan. Sản phẩm của thông tin chiến lược hướng đến mục tiêu mang tính dài hạn như: Những thay đổi, nguy cơ và chiều hướng hoạt động của tội phạm; Những thuận lợi đối với công tác phòng, chống buôn lậu.
- Thông tin chiến thuật: Là các loại thông tin có tác dụng phục vụ trực tiếp cho lãnh đạo các đơn vị tham mưu thuộc cơ quan Tổng cục hải quan và các đơn vị hải quan địa phương trong việc chỉ đạo, điều hành, xây dựng kế hoạch hành động và triển khai lực lượng, biện pháp để đạt được các mục tiêu quản lý. - So sánh với thông tin cấp chiến lược, thông tin chiến thuật ở phạm vi nhỏ hơn và mang tính cụ thể hơn, như thông tin về những dấu hiệu mới phát sinh hoặc những thay đổi về phương thức, thủ đoạn vi phạm pháp luật hải quan, giúp cho việc triển khai lực lượng, biện pháp để kiểm soát đối với những loại đối tượng một cách hiệu quả nhất. - Thông tin tác nghiệp: Là thông tin về các vụ việc cụ thể được cung cấp cho đơn vị tác nghiệp để phục vụ việc đưa ra quyết định nghiệp vụ như: Thông quan hàng hóa, kiểm tra sau thông quan, phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi vi phạm pháp luật hải quản. Khái niệm xử lý, thu thập thông tin nghiệp vụ hải quan Theo Luật hải quan Việt Nam, thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan là hoạt động trọng tâm của các đơn vị chuyên trách thuộc lực lượng kiểm soát hải quan thông qua việc áp dụng các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan và ứng dụng công nghệ thông tin nhằm chủ động thực hiện phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, phục vụ thông quan và kiểm tra sau thông quan, phục vụ việc xây dựng chính sách và quản lý hải quan hiện đại.
Thông tin nghiệp vụ hải quan được quản lý và chỉ được sử dụng đúng mục đích theo qui định của tổng cục trưởng Tổng cục hải quan. Căn cứ tính chất và phân cấp quản lý sử dụng, thông tin nghiệp vụ hải quan được thu thập từ hai nguồn cụ thể như sau: Thông tin công khai: - Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và ngoài nước. - Thông tin từ các đơn vị nghiệp vụ hải quan, từ việc khai báo hải quan và các cơ sở dữ liệu chung của ngành hải quan. - Thông tin từ các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan.
- Thông tin từ hải quan các nước và tổ chức hải quan quốc tế. Thông tin bí mật: - Thông tin từ cơ sở bí mật của lực lượng kiểm soát hải quan và từ kết quả hoạt động của các đơn vị kiểm soát hải quan. - Thông tin tố giác vi phạm pháp luật về hải quan của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. - Thông tin từ cơ quan chống buôn lậu của hải quan nước ngoài.