CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHỐNG THẤT THU THUẾ NHẬP KHẨU 1. Khái quát về thu thuế nhập khẩu. Khái quát chung: Trong thời cổ đại và trung cổ, thuế nhập khẩu còn được các chính quyền địa phương thu, nhưng hiện nay điều này là rất hiếm và thông thường nó được nhà nước giao cho một tổ chức nhà nước chuyên trách về thuế xuất-nhập khẩu là hải quan thực hiện công việc kiểm tra, tính và thu thuế. Tại một số quốc gia, cơ quan chức năng khi tính thuế nhập khẩu cũng tính luôn cả thuế giá trị gia tăng (VAT) đối với mặt hàng nhập khẩu đó, mặc dù thuế giá trị gia tăng về nguyên lý chỉ được đánh khi hàng hóa tham gia lưu thông.
Một số quốc gia có chính sách hoàn thuế nhập khẩu cùng thuế VAT khi các mặt hàng nhập khẩu được sử dụng vào sản xuất hàng xuất khẩu. Trong thời đại ngày nay, các chính sách về thương mại, thuế và thuế quan (trong đó có thuế nhập khẩu) thường được xếp cùng nhau do ảnh hưởng chung của chúng đối với các chính sách công nghiệp, chính sách nông nghiệp và chính sách đầu tư. Các khối thương mại là nhóm các quốc gia liên minh thỏa thuận giảm thiểu hay loại trừ thuế quan đối với thương mại trong khối, cũng như khả năng áp đặt thuế quan có hiệu quả lên hàng nhập khẩu từ ngoài khối. Liên minh hải quan của khối thường có biểu thuế quan ngoài chung, và theo các quy định đã thỏa thuận thì các quốc gia thành viên chia sẻ các khoản thu nhập từ thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào trong khối.
Thuế là một công cụ tài chính vô cùng quan trọng, gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước mà bất cứ quốc gia nào cũng sử dụng công cụ thuế để tham gia vào việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Thuế giống như một vết dầu loang trên sông. Theo thời gian thuế ngày càng thẩm thấu và lan tỏa ra mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân trong xã hội. Năm 1726, nhà chính trị kiêm nhà văn Daniel Defoe trong quyển “ The political History of the Devil” đã khẳng định “Những thứ như thuế và cái chết 6 có thể được tin là chắc chắn hơn những thứ khác”.
Năm 1817, nhà khoa học nổi tiếng của Mỹ Benjiamin Franklin trong quyển “The word of Benjiamin Franklin” đã viết “Trên thế giới không có thứ gì có thể được nói là chắc chắn, ngoại trừ cái chết và thuế”. Tác giả lừng danh “Gone with the Wind” của nhà văn Margaret Mitchell cũng viết “Cái chết, thuế và sinh con! Không bao giờ có bất cứ thời gian thuận tiện nào để dành cho bất cứ thứ nào trong số chúng”. Điều này đã chứng minh được sự lan tỏa và tính tất yếu của thuế. Tùy thuộc vào từng thể chế chính trị, từng giai đoạn lịch sử khác nhau đã xuất hiện rất nhiều học thuyết về thuế.
Tuy nhiên, các học thuyết này đã thể hiện nhiều quan điểm tương đồng cũng như những quan điểm đối kháng lẫn nhau về thuế. Thuyết thuế ước đã khẳng định rằng “Thuế là đối giá của hàng hóa và dịch vụ công cộng Chính phủ cung cấp”. Thuyết tương đẳng phát biểu “Thuế là một phần tài sản công dân để yên hưởng phần còn lại”. Hai học thuyết này khá tương đồng và thể hiện rất rõ quyền lợi của người nộp thuế.
Học thuyết đã khẳng định hoàn toàn không có sự bắt buộc nào, thuế được xây dựng và thực thi trên cơ sở tự nguyện. Chính phủ sẽ đệ trình Luật thuế để Quốc Hội xem xét và thông qua. Chính phủ cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và người dân là người nhận các hàng hóa, dịch vụ công này. Giao dịch này được thực hiện trên nguyên tắc tự nguyện và dựa trên cơ sở trao đổi ngang giá một cách trực tiếp như một giao dịch mua bán trên thị trường.
Người giữ vai trò quyết định đối với giao dịch này là Quốc hội chứ không phải là Chính phủ. Các đại biểu Quốc hội là người biểu quyết một Luật thuế sẽ có hiệu lực hay không khi thông qua hay bác bỏ nó. Nhìn chung, hai học thuyết này mang tính chất so dịu – thể hiện quyền lợi hơn là nghĩa vụ từ thuế. Chúng thể hiện tính công bằng của thuế theo chiều hướng công bằng theo lợi ích kinh tế của người nộp thuế dựa trên cơ sở người hưởng thụ nhiều hàng hóa, dịch vụ công sẽ nộp thuế nhiều hơn.
Các nhà kinh tế học đại diện của học thuyết quyền lực Nhà nước đưa ra các quan điểm về thuế mang tính chất dung hòa giữa các học thuyết trước đó.A Seligman cho rằng: “Thuế là sự đóng góp cưỡng bức của mọi người cho 7 Chính phủ để trang trải các chi phí và lợi ích chung không mà ít căn cứ vào lợi ích riêng được hưởng”. Theo Philip E Taylor “Thuế là sự đóng góp cưỡng bách của mỗi Chính phủ để trang trải các chi phí vì quyền lợi chung mà ít căn cứ vào lợi ích riêng được hưởng”. Theo Simon James và Christopher Nobes “Thuế là một khoản thu do Nhà nước thực hiện mà không có sự hoàn trả nào”. Không là những nhà kinh tế học đại diện cho học thuyết quyền lực Nhà nước nhưng K.
Engles cũng đưa ra các quan điểm về thuế khá tương đồng.Marx “Thuế là cơ sở kinh tế của Nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân đóng góp để dùng cho việc chi tiêu của Nhà nước”. Engles “ Để duy trì quyền lực công cộng cần có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế”. Rõ ràng quan điểm của Học thuyết quyền lực Nhà nước đã có sự dung hóa một mặt nhấn mạnh tính cưỡng chế của thuế, mặt khác đề cập đến lợi ích chung của xã hội nhận được từ thuế. Khác với học thuyết khế ước và tương đẵng đề cập đến lợi ích riêng tư dựa trên quan hệ trao đổi ngang giá trực tiếp.
Học thuyết quyền lực Nhà nước đề cập đến tính cưỡng chế, bắt buộc và không có sự hoàn trả trược tiếp nhưng đề cập đến lợi ích chung mà xã hội nhận được. Theo từ điển Luật học: “ Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một loại thuế gián thu đánh vào các loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu biên giới” [110, tr 87]. Theo từ điển kinh tế học (Anh – Việt) có nêu: “Thuế nhập khẩu là một khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính Phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [111].
Thuế nói chung vừa là phạm trù mang tính khách quan vừa là phạm trù mang tính lịch sử. Thuế tồn tại và phát triển gắn liền với sự tồn tại và hoạt động của nhà nước. Khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định, giai cấp và tầng lớp xã hội xuất hiện thì nhà nước cũng được hình thành. Để thực hiện chức năng của mình thì nhà nước cùng cần có một nguồn tài chính được huy động từ người dân đóng góp đó là thuế.
Thuế là khoản đóng góp bắt buộc được thể hiện bằng Luật do Nhà nước 8 đặt ra đối với thể nhân và pháp nhân đóng góp cho ngân sách, và thuế không có tính chất hoàn trả trực tiếp. Thuế được áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác nhau và được chia thành nhiều loại thuế; trong đó khoản thuế nhập khẩu là một khoản thuế không thể thiếu được khi hoạt động mua bán giữa các quốc gia xãy ra. Thuế nhập khẩu là khoản thu bắt buộc điều tiết vào giá của hàng hóa, dịch vụ khi trao đổi với nước khác mà người chủ sở hữu phải nộp thuế. Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu động viên từ người tiêu dùng hàng nhập khẩu nhằm góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và bảo hộ sản xuất trong nước.
Thuế nhập khẩu do các tổ chức, cá nhân có hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng chịu thuế phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp theo quy định của pháp luật với số tiền thuế nhập khẩu phải nộp theo thời hạn nhất định của pháp luật. Sử dụng tốt chính sách thuế nhập khẩu là phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của thuế, đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước và điều tiết vĩ mô nền kinh tế; thực hiện chính sách kinh tế đối ngoại của quốc gia với các quốc gia khác trong thương mại quốc tế. Ngoài ra cần hiểu thuế nhập khẩu là: - Thuế nhập khẩu là loại thuế độc lập trong hệ thống pháp luật thuế Việt Nam và các nước trên thế giới. - Tên gọi đạo luật là thuế xuất khẩu, nhập khẩu điều chỉnh loại thuế khác nhau là thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu.
- Mục đích quan trọng của thuế nhập khẩu là do yêu cầu bảo hộ nền sản xuất trong nước nhưng không thể áp dụng các biện pháp hành chính (hàng rào phi thuế quan) thì thuế nhập khẩu là công cụ hữu hiệu nhất thực hiện được yêu cầu này. - Hiện nay, do yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, nhà nước còn ban hành thêm thuế chống trợ cấp và thuế chống bán phá giá. Thực chất đây là hai loại thuế bổ sung cho thuế nhập khẩu trong những trường hợp có căn cứ cho rằng hàng hoá đó có trợ cấp của nhà nước hoặc có hành vi bán phá giá nhằm mục đích cạnh tranh không lành mạnh.2 Đặc điểm của thuế nhập khẩu: 9 Do thuế nhập khẩu có đặc điểm khác hơn so với các loại thuế khác trong hệ thống thuế là việc sử dụng thuế nhập khẩu không những tác động đến nền kinh tế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ ngoại giao và chính sách đối xử với các quốc gia khác. Thuế nhập khẩu có các đặc điểm cơ bản sau đây: - Thuế nhập khẩu chỉ thu vào hàng hóa nhập khẩu mà không thu vào hàng hóa sản xuất trong nước.
Thuế nhập khẩu là loại thuế gián thu, Nhà nước sử dụng thuế nhập khẩu để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả hàng hóa nhập khẩu. Việc tăng, giảm thuế suất nhập khẩu có tác động trực tiếp đến cơ cấu giá cả hàng hóa và ảnh hưởng rất lớn đến người tiêu dùng trong việc quyết định mua hàng hóa, các nhà nhập khẩu và sản xuất hàng hóa phải điều chỉnh kế hoạch của mình cho phù hợp với sức mua của người dân. - Thuế nhập khẩu gắn với hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ.