CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGOẠI THƯƠNG, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ HẢI QUAN I.TỔNG QUAN VỀ NGOẠI THƯƠNG VÀ THUẾ NHẬP KHẨU: 1. Hoạt động ngoại thương và chính sách ngoại thương: 1.Hoạt động ngoại thương trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế: Hoạt động ngoại thương là quá trình trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các quốc gia, chủ yếu thông qua hoạt động xuất nhập khẩu và các hoạt động gia công với nước ngoài. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa ngày càng phát triển, được mở rộng và phát triển không ngừng do các quốc gia tăng cường hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế. Hoạt động ngoại thương trong thời kỳ này nhằm đa phương hoá các quan hệ buôn bán và đa dạng hóa thị trường, tăng cường buôn bán giữa các nước với nhau trên cơ sở tôn trọng lợi ích chung, không phân biệt đối xử trong quan hệ buôn bán quốc tế, tôn trọng nguyên tắc tự do hoá và các ràng buộc về cắt giảm thuế quan, các nguyên tắc bảo hộ và phòng ngừa bất trắc… Hoạt động ngoại thương của mỗi quốc gia trong điều kiện kinh tế mở đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp, mang tính quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia.
Tháng 11 năm 2006 với sự kiện gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) và trước đó là việc cam kết các ràng buộc trong CEPT-AFTA, APEC, Liên minh Châu Âu, Hiệp định thương mại Việt Nam Hoa Kỳ…. đã đưa lại thuận lợi lớn cho Việt Nam trong hoạt động ngoại thương, và kinh tế Việt Nam đã hoà nhập dần vào nền kinh tế thế giới. Chính sách ngoại thương và các biện pháp thực hiện chính sách ngoại thương: 1. Chính sách ngoại thương: Chính sách ngoại thương là hệ thống các nguyên tắc, các biện pháp kinh tế 5 hành chính và pháp luật được nhà nước ban hành để thực hiện các mục tiêu đã xác định trong lĩnh vực ngoại thương của một nước trong một thời kỳ nhất định.
Chính sách ngoại thương là một bộ phận cấu thành trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia nói chung và chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của quốc gia đó nói riêng. Mỗi quốc gia đều có những đặc thù kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường, điều kiện tự nhiên khác nhau, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển kinh tế khác nhau, mỗi quốc gia đều có chính sách ngoại thương riêng với các nguyên tắc, phương pháp, biện pháp, hình thức cụ thể phù hợp với từng thời kỳ. Các biện pháp thực hiện chính sách ngoại thương: - Thuế quan; - Nhóm biện pháp hạn chế về số lượng; - Các biện pháp tài chính tiền tệ phi thuế quan; - Nhóm biện pháp mang tính kỹ thuật.Thuế quan- một trong những biện pháp thực hiện chính sách ngoại thương- Những vấn đề chung: Chính sách mậu dịch tự do kích thích thương mại quốc tế mở rộng, phát triển, đem lại lợi ích tối đa cho toàn nhân loại. Song trên thế giới mỗi quốc gia đều xây dựng chính sách ngoại thương riêng với mục đích đạt được lợi ích cao cho bản thân và do vậy, chính sách ngoại thương của mỗi nước trên thế giới hiện nay dù ít hay nhiều đều thực hiện một hoặc một số biện pháp nhằm hạn chế mậu dịch tự do.
Thuế quan - một biện pháp thực hiện chính sách ngoại thương để điều tiết và kiểm soát hàng nhập khẩu. Thuế quan còn là công cụ của nhà nước nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, huy động nguồn lực tài chính cho ngân sách nhà nước, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá. Thuế quan bao gồm thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu. Tuy nhiên trong cơ cấu thu từ thuế thì thuế nhập khẩu chiếm vai trò chủ yếu nên trong phạm vi đề tài này, tác giả chỉ tập trung vào nghiên cứu về thuế nhập khẩu.
Thuế nhập khẩu: 3. Khái niệm thuế nhập khẩu: 6 Trong cấu trúc hệ thống thuế của một quốc gia thì thuế nhập khẩu có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại trong từng thời kỳ. Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế nhập khẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hàng hoá nhập khẩu bên ngoài và bảo bộ sản xuất trong nước. Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến thuế nhập khẩu theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia song về cơ bản, thuế nhập khẩu vẫn là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhập khẩu, tuỳ thuộc vào từng góc độ tiếp cận. Xét về phương diện kinh tế, thuế nhập khẩu được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo qui định của pháp luật, khi họ có hành vi nhập khẩu hàng hóa qua biên giới của một nước. Với cách tiếp cận này, thuế nhập khẩu được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính phát sinh giữa các chủ thể là các tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là nhà nước. Mặt khác, thuế nhập khẩu còn là đòn bẩy kinh tế hay là biện pháp kinh tế để nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi của mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu.
Xét về phương diện pháp lý, thuế nhập khẩu có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hình thành thu thuế nhập khẩu. Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho 7 nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức, cá nhân người nộp thuế. Việc tiếp cận thuế nhập khẩu ở góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận rõ hơn bản chất của thuế nói chung và thuế nhập khẩu nói riêng, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của một quốc gia đối với người đóng thuế. Trên cơ sở lý thuyết đó, giúp nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế nhập khẩu phù hợp với quyền lợi của quốc gia và người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ những góc nhìn khác nhau về thuế nhập khẩu, ta có thể đưa ra một kết luận về thuế nhập khẩu như sau: “ Thuế nhập khẩu là loại thuế thu vào hàng hoá được phép giao thương qua biên giới các quốc gia, nhóm quốc gia, hình thành và gắn liền với hoạt động thương mại quốc tế. Thuế nhập khẩu áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới; hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới và hàng hóa mua bán, trao đổi khác được coi là hàng hóa nhập khẩu; hàng hóa từ thị trường trong nước bán vào các khu phi thuế quan và ngược lại”(1) 3. Vai trò của chính sách thuế nhập khẩu: Khi nói đến thuế nhập khẩu ta thường nói đến chính sách thuế nhập khẩu. Đây là một công cụ đặc biệt quan trọng mà bất kỳ nhà nước nào cũng sử dụng để hoàn thành chức năng của mình.
Vai trò của chính sách thuế nhập khẩu qua các thời kỳ là như nhau, tuy nhiên trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay thì thuế nhập khẩu còn thể hiện với vai trò là một công cụ để thực hiện các chính sách đối ngoại mà Việt nam tham gia ký kết. Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu: Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu là mục tiêu sống còn của mỗi quốc gia, đặc biệt trong xu thế tự do hoá thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới. Thông qua ----------------------------------------------------------------------------------------------------- 1 TS Phan Mỹ Hạnh- Lê Quang Cường, Giáo trình thuế, NXB Lao động, TP.HCM, 2008 8 việc kiểm tra thu thuế nhập khẩu để biết được thực chất hàng hóa qua cửa khẩu như thế nào, số lượng bao nhiêu… thì nhà nước mới kiểm soát được tất cả hàng hóa nhập khẩu. Kết hợp với chính sách ngoại thương thích hợp, nhà nước cho phép nhập khẩu hàng hóa gì, cấm nhập hàng hóa nào để có biện pháp xử lý kịp thời, không để lọt vào thị trường trong nước.
Bảo hộ sản xuất trong nước: Ngoài chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế thuế nhập khẩu còn có chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước thông qua việc tác động vào giá cả hàng hóa nhập khẩu trên thị trường. Tuy nhiên tác động này chỉ ảnh hưởng lên giá cả chứ không làm chất lượng hàng hóa giảm xuống và mục tiêu này không bền vững, lâu dài và chỉ mang tính tình thế. Huy động nguồn lực cho Ngân sách Nhà nước: Khi thực hiện chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế và bảo hộ sản xuất trong nước, thuế nhập khẩu góp phần quan trọng trong việc hình thành nguồn thu cho NSNN. Mặc dù quá trình tham gia, hội nhập kinh tế quốc tế thu thuế nhập khẩu ở mức cao vừa bảo hộ sản xuất trong nước, vừa đóng góp nguồn thu đáng kể cho ngân sách.
Ngược lại, thu thuế nhập khẩu thấp, tức khuyến khích nhập khẩu, nhìn bề ngoài số thu đóng góp cho ngân sách thấp hoặc không đáng kể, nhưng xét trong tổng thể qui trình sản xuất xã hội, thì thu ngân sách sẽ tăng lên ở khâu tiêu thụ sản phẩm bằng các loại thuế nội địa. Thực hiện các chính sách đối ngoại: Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ thương mại với rất nhiều nước nước và vùng lãnh thổ, tham gia rất nhiều hiệp định thương mại, rất nhiều hiệp định hợp tác đầu tư, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của trên 70 nước, là thành viên thứ 150 của WTO vào năm 2006.