CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KINH DOANH NHÀ HÀNG, KHÁCH SẠN 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm về Thuế [17] Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác dộ nghiên cứu có nhiều khác biệt. Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế.
Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: “Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khóa. Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực nhà nước. Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó. Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế.
Bên cạnh đó, cũng có các quan điểm khác nhau về thuế, được nhìn nhận trên các bình diện khác. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng : “Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”. Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ, dựa trên cơ sở đối giá như sau: “Thuế là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hóa, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong 6 luan an sự trao đổi đó họ không nhận được trực tiếp hàng hóa, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật”. Trên giác độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước. Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước. Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế. Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp v.v buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.
Những khái niệm về thuế nêu trên mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế. Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây: - Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; - Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước; 7 luan an - Các các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định. - Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung. Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải được sử dụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét.
Có những loại thuế được thu chỉ nhằm một mục đích định trước và trao cho một số đối tượng quy định. Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đưa ra trong Giáo trình Tài chính công. Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau: Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng 1. Khái niệm về chính sách công 1.
Về một số quan niệm về chính sách công: Trên thế giới có rất nhiều quan niệm khách nhau về chính sách công. Có thể kể đến một số các hiều tiêu biểu sau: Chính sách công theo Thomas Dye: “Chính sách công là bất kỳ những gì Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm”; B Guy Peter định nghĩa: “… chính sách công là toàn bộ hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiến đến cuộc sống của mọi công dân”; theo Charle L. Cochran and Eloise F. Malone thì: “chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm đạt được những mục tiêu xã hội”; Clarke E.
Corhran lại cho rằng” “thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và những ý định, quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì”; Thomas A. 8 luan an Birkland quan niệm: “chính sách như là một tuyên bố của chính phủ - ở bất kỳ mức nào - về những gì nó dự định làm về một vấn đề công cộng”. [18] Ở nước ta, cũng có nhiều quan niệm rất khác nhau về chính sách công. Có thể kể đến một số định nghĩa đáng chú ý sau: Từ điển Bách khoa Việt Nam cho rằng: “chính sách là các chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó”; PG.T Nguyễn Hữu Hải quan niệm rằng: “chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách giải quyết các vấn đề công trong xã hội”; Viện chính trị học cho rằng: “… chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực công cộng”, một tập thể tác giả khác lại cho rằng: “chinh sách công là tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu, giải pháp để giải quyết một số vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển”. Tiếp thu các cách hiểu đó, sau đây, xin phân tích và đưa ra cách hiểu về chính sách công như sau: 1. Tiếp cận chính sách công từ góc độ quyền lực trong sự so sánh với chính sách tư Ngay từ buổi bình minh, sống theo bầy đàn, con người đã cần đến một thủ lĩnh làm người dẫn dắt để sinh tồn trước một thế giới tự nhiên vô cùng mạnh mẽ và khắc nghiệt. Thủ lĩnh đó có sức mạnh và trí tuệ vượt trội hơn các thành viên khác trong cộng đồng, được cộng đồng trao quyền một cách không tự giác hoặc tự giác.
Những quyết định của thủ lĩnh chỉ đạo các hoạt động của cộng đồng được xem như là chính sách công trong thời kỳ đó của xã hội loại người. Xã hội ngày càng phát triển, con người ngày càng được liên kết thành những nhóm người lớn hơn. Cùng với sự phát triển đó, việc trao quyền cho những thể chế lãnh đạo của nhóm càng phức tạp hơn. Việc hình thành giai cấp là một bước nhảy vọt tạo nên sự khác biệt lợi ích sâu sắc giữa các bộ phận trong xã hội loài người bên cạnh những lợi ích chung.
Cùng với giai cấp, nhà nước ra đời để bảo 9 luan an vệ lợi ích cho các giai cấp mà nó đại diện, song đồng thời cũng để bảo vệ lợi ích chung của các thành viên trong lãnh thổ mà nó quản lý. Nhà nước, với bản chất là đại diện cho lợi ích của giai cấp song nó chỉ đứng vững khi biểu hiện ra bên ngoài là đại diện cho lợi ích của toàn thể cộng đồng người sống trong lãnh thổ mà nó quản lý. Xã hội càng phát triển, ngày nay, vượt ra ngoài lãnh thổ quốc gia, loài người ngày càng có sự gắn kết với nhau bằng những mối quan tâm chung. Nhằm giải quyết những mối quan tâm chung đó, loài người nhận thấy cần có những thể chế đại diện cho họ để thực hiện.
Thực tế cho thấy các tổ chức đại diện khu vực và toàn thể loài người trên thế giới này đã hình thành. Đó là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, là Liên hiệp quốc,… Từ cách phân tích đó, chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau: Thứ nhất, chủ thể chính sách công phải là thể chế được cộng đồng trao cho quyền lực của cộng đồng (quyền lực công). Thể chế đó thực hiện quyền lực có thể bằng các phương tiện phụ thuộc vào tình hình lịch sử cụ thể. Nhìn khái quát thì phương tiện đó là sự kết hợp giữa cái vốn có của chủ thể và cái thuộc về cộng đồng trao cho.