Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Thực trạng tài nguyên rừng trên Thế giới Tài nguyên rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của hầu hết người dân vùng núi. Ở đây, rừng mang lại cho họ nhiều loại sản phẩm khác nhau như: gỗ, củi, lương thực, thực phẩm, dược liệu,.
Quan trọng hơn nữa là rừng đảm bảo những điều kiện sinh thái cần thiết để duy trì các hoạt động sản xuất và đời sống của người dân. Trong giai đoạn đầu của thế kỷ 20, hệ thống quản lý tài nguyên rừng tập trung đã thực hiện ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở những quốc gia phát triển. Trong giai đoạn này, vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng ít được quan tâm. Vì vậy, họ chỉ biết khai thác tài nguyên rừng lấy lâm sản và đất đai để canh tác nông nghiệp, nhu cầu lâm sản ngày càng tăng đã dẫn đến tình trạng khai thác quá mức tài nguyên rừng và làm cho tài nguyên rừng ngày càng bị suy thoái nghiêm trọng.
Nhằm khắc phục tình trạng khai thác rừng quá mức, các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rừng như: Các nhà lâm học Đức (G.Hartig - 1840; Heyer - 1883; Hundeshagen - 1926) đã đề xuất nguyên tắc lợi dụng lâu bền đối với rừng thuần loại đều tuổi; Các nhà lâm học Pháp (Gournand - 1922) và Thuỵ Sỹ (H.Biolley - 1922) đã đề ra phương pháp kiểm tra điều chỉnh sản lượng với rừng khai thác chọn khác tuổi, vv. Vào cuối thế kỷ 20, khi tài nguyên rừng đã bị suy thoái nghiêm trọng thì con người mới nhận thức được rằng tài nguyên rừng là có hạn và đang bị suy giảm nhanh chóng, nhất là tài nguyên rừng nhiệt đới. Nếu theo đà mất rừng mỗi năm khoảng 15 triệu ha như số liệu thống kê của FAO thì chỉ hơn 100 năm nữa rừng nhiệt đới hoàn toàn bị biến mất, loài người sẽ chịu những thảm hoạ khôn lường về kinh tế, xã hội và môi trường.[26] Để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vốn rừng, bảo tồn ĐDSH trên phạm vi toàn thế giới, cộng đồng quốc tế đã thành lập nhiều tổ chức, tiến hành nhiều hội nghị, đề xuất và cam kết nhiều công ước về bảo vệ và phát triển rừng trong đó có Chiến lược bảo tồn (năm 1980 và điều chỉnh năm 1991), Tổ chức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Gỗ nhiệt đới quốc tế (ITTO năm 1983), Chương trình hành động rừng nhiệt đới (TFAP năm 1985), Hội nghị quốc tế về môi trường và phát triển (UNCED tại Rio de Janeiro năm 1992), Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật quý hiếm (CITES), Công ước về Đa dạng sinh học (CBD, 1992), Công ước về thay đổi khí hậu toàn cầu (CGCC, 1994), Công ước về chống sa mạc hoá (CCD, 1996), Hiệp định quốc tế về gỗ nhiệt đới (ITTA, 1997).[30] Theo tổ chức FAO: cần nỗ lực và tăng độ che phủ của rừng và năng suất bằng các phương pháp sinh thái, kinh tế và xã hội chấp nhận được, khai hoang, trồng rừng và trồng rừng trên các vùng đất nông nghiệp bị bỏ hoang và vùng đất bị suy thoái và không có cây. Trong thế kỷ XX, thế giới đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng công nghiệp, dân số tăng… đã làm cho diện tích rừng ngày càng giảm nhanh.
+ Theo thống kê của FAO (1999), những năm cuối của thế kỷ XX, tình trạng phá hủy rừng đã diễn ra liên tục, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, các nước thuộc vùng nhiệt đới, chỉ riêng ở Châu Phi và Châu Á mỗi năm mất khoảng từ 3 đến 3,6 triệu ha rừng, vào khoảng 0,6 đến 0,7%, trong khi đó thì toàn thế giới mất khoảng 3%. + Theo Hongton (1983) thì 15% rừng trên thế giới đã bị biến mất trong khoảng thời gian từ 1850 đến 1980. + Theo FAO thì khoảng 50% rừng nhiệt đới bị phá hủy từ năm 1950, nhiều nhất là ở Trung Mỹ (66%), tiếp theo là Trung Phi (52%), Nam Phi là 37% và Đông Nam Á là 38%. Rừng trên thế giới đã giảm đi 70 triệu ha (gần 2%) trong khoảng 1980 đến 1990.
Vào những năm đầu thập kỷ 80 (thế kỷ XX) tốc độ mất rừng nhiệt đới là 11.4 triệu ha, trong đó khoảng 3/4 là rừng giàu và 17 đến 20 triệu ha vào cuối thập kỷ 80. Tốc độ mất rừng trung bình của thế giới là 1%/năm. Riêng ở vùng Đông Nam Á, trong thời gian 1980 đến 1990 thì diện tích rừng giảm đi khá nhanh. Như ở Indonesia diện tích rừng giảm 1.212 nghìn ha, Thái Lan là 515 nghìn ha, Malaysia là 396 nghìn ha, Philippine là 316 ha, Việt Nam là 139 nghìn ha và Lào là 129 nghìn ha.[30] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tình trạng mất rừng trên thế giới ở nhiều quốc gia chính là việc quản lý bảo vệ rừng từ trên xuống dưới, chưa đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người dân.
Trước sự nỗ lực của nhiều quốc gia, công tác quản lý bảo vệ rừng trên thế giới đã có nhiều chuyển biến tích cực. Thế giới đã đình chỉ việc khai thác gỗ ở vùng đặc dụng, các khu bảo tồn thiên nhiên, khu du lịch sinh thái, quan tâm đến lợi ích của rừng đối với đời sống của con người. Chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực quản lý rừng từ cấp Trung ương đến cơ sở, phân cấp quản lý Nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Giao đất, giao rừng, khuyến khích sự tham gia bảo vệ rừng của cộng đồng… 1.
Quản lý tài nguyên rừng của một số nước trên Thế giới - Ở Indonesia: Trong ngành lâm nghiệp đang tồn tại hai thực tế. Một thực tế là những cánh rừng tiếp tục bị tàn phá, những đầm lầy than bùn bị rút hết nước, rừng bị đốt phá để thay thế bằng những đồn điền cây công nghiệp. Trong khi đó, vẫn có một thực tế khác là cây cối đang được trồng lại, rừng được khôi phục với hy vọng giải quyết được vấn đề khí thải trong một tương lai gần. Quan điểm nhất quán về chính sách quản lý rừng ở Inđônêxia là dựa trên nguyên tắc vừa khai thác lợi ích rừng, vừa bảo tồn và phát triển rừng.
Vì vậy các nhà khoa học đã kiến nghị với Chính phủ đưa ra 3 chương trình mang tính chất quốc gia. Đó là: - Chương trình kiểm tra, giám sát, du canh, du cư. - Chương trình phát triển làng, bản. - Chương trình lâm nghiệp xã hội.
Các nhà khoa học Inđônêxia còn đưa ra và thí điểm thành công mô hình đồng quản lý rừng. Theo mô hình này, các cơ quan phát triển lâm nghiệp Nhà nước cùng với người dân và cộng đồng địa phương cùng tham gia quản lý rừng. Cụ thể các cán bộ quản lý lâm nghiệp Nhà nước tiếp cận hộ gia đình, cộng đồng địa phương để lựa chọn hệ thống cây trồng, từ đó giúp đỡ nhóm nông dân sản xuất rừng. Giúp đỡ nhóm hộ soạn thảo kế hoạch quản lý rừng.
Người nông dân được khuyến khích trồng rừng trên đất rừng do Nhà nước quản lý, được quyền thu hái sản phẩm phụ. Các chương trình lâm nghiệp xã hội đã giúp đỡ người dân tổ chức lại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 thành nhóm, hiệp hội, tạo mối quan hệ gắn bó giữa các công ty Nhà nước với các cộng đồng địa phương.[28] - Ở Philippin: Đã áp dụng chương trình xã hội Lâm nghiệp tổng hợp cá nhân, tổ chức, cộng đồng địa phương được giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp, người dân sử dụng đất và có kế hoạch trồng rừng. Các nhà khoa học Philippin đã khẳng định chính sách quản lý lâm nghiệp đổi mới trong những năm gần đây là yếu tố có tính quyết định đến phát triển lâm nghiệp, trong đó có chính sách giao, khoán rừng cho hộ nông dân từ trước năm 1970. Chính sách lâm nghiệp hướng vào việc bảo vệ cho những người được hưởng đặc ân có quyền sử dụng lâm sản cho mục đích thương mại, còn dân cư có cuộc sống phụ thuộc vào rừng thì bỏ qua.
Đứng trước thực trạng đó, năm 1970 đã có ba chương trình quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được qui định: - Chương trình hộ gia đình tham gia tạo rừng và bảo vệ rừng; - Chương trình quản lý rừng đang bị người dân chiếm dụng; - Chương trình trồng cây nhân dân; Để quản lý rừng bền vững, các nhà khoa học đề xuất 3 chương trình: - Chương trình lâm nghiệp xã hội - Chương trình trồng rừng và bảo vệ rừng quốc gia - Chương trình lâm nghiệp cộng đồng.[28] Từ kinh nghiệm quản lý rừng ở Philippin cho thấy cần kết hợp quản lý Nhà nước với quản lý cộng đồng và hộ gia đình, tạo mọi điều kiện cho cộng đồng và hộ gia đình để họ thực hiện chức năng quản lý tốt hơn. Nhưng nhà nước phải tổ chức đào tạo kiến thức về quản lý, kỹ thuật, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các chủ thể, hỗ trợ về vốn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.vv - Ở Nêpan: Chính phủ cho phép chuyển giao một số diện tích đáng kể khu rừng cộng đồng thông qua sử dụng Panchagal (tổ chức chính quyền cấp sở) để quản lý rừng. - Ở Ấn Độ: Khi chính sách Lâm nghiệp được quốc gia thông qua năm 1998, là việc coi trọng những nhu cầu cơ bản của người dân sống gần kề với rừng như chất đốt, thức ăn gia súc, gỗ làm nhà… và vai trò của họ trong gìn giữ và bảo tồn tài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Và Luật đất đai đã tạo điều kiện gây nên động lực cho cá nhân và cộng đồng trồng cây phân tán, trồng rừng tập trung và quản lý bảo vệ rừng hiện có, đặc biệt đối với những thổ dân có truyền thống và tập tục riêng biệt.
Có hai hình thức chủ yếu, điển hình đó là rừng cộng quản (JFM) và rừng cộng quản có sự tham gia (JPFM). - Ở Trung Quốc, pháp lệnh bảo vệ và phát triển rừng được ban hành vào đầu năm 1980 đã làm rõ sở hữu đất rừng và rừng. Chủ rừng là cơ quan Nhà nước, tập thể và tư nhân. Các công trình nghiên cứu gần đây đã phân loại quản lý rừng ra 4 loại hình, đó là: - Trang trại, lâm nghiệp làng, bản: Đây là loại hình quản lý rừng chủ yếu hiện nay.
Ở hình thức này người dân đóng góp ngày công lao động, tiền vốn để trồng rừng. Sau khi trồng xong, làng, bản xây dựng các trang trại vườn, rừng và lựa chọn người có kinh nghiệm trông coi, quản lý.