CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm cơ bản về khiếu nại, tố cáo và tranh chấp Theo kết quả thống kê kết quả diện tích đất đai năm 2016 tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33. Trong đó diện tích nhóm đất Nông nghiệp là 27.906 ha, chiếm 82,37% tổng diện tích tự nhiên; diện tích nhóm Phi nông nghiệp là 3.374, chiếm 11,24% tổng diện tích tự nhiên; còn 2.798 ha thuộc nhóm đất chưa sử dụng vào các mục đích, chiếm 6,37% tổng diện tích tự nhiên. Dân số Việt Nam là 93,4 triệu người, bình quân đất tự nhiên trên đầu người là 3.545,5 m2 bằng 1/7 mức bình quân thế giới.
So sánh với 10 nước khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích của Việt Nam xếp thứ 2, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người Việt Nam đứng thứ 9 trong khu vực. Quản lý nhà nước về đất đai là nhu cầu khách quan là công cụ bảo vệ và điều tiết các lợi ích gắn liền với đất đai, và quan trọng nhất là bảo vệ chế độ sở hữu về đất đai. Nhiệm vụ này cần được đổi mới một cách cụ thể và phù hợp để đáp ứng các yêu cầu quản lý và tương xứng với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong từng giai đoạn. Cùng với quá trình phát triển không ngừng của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nền kinh tế nước ta hiện nay là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế.
Bởi vì đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và có hạn; là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là nguồn sống của nhân dân, là tài sản, nguồn lực to lớn của đất nước, không giống như các tư liệu sản xuất, tài sản thông thường khác nên giá trị sử dụng của đất đai ngày càng được nâng cao. Bên cạnh đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cho xã hội về đất ở và đất canh tác đang trở thành mối quan tâm của toàn xã hội. Đây là các nguyên nhân dẫn đến phát sinh các vụ việc khiếu nại, tố cáo e 5 và tranh chấp về đất đai. Điều này đã gây ra không ít khó khăn cho các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai hiện nay.
Việc giá trị sử dụng của đất đai ngày càng được nâng cao, nhu cầu sử dụng đất của nhân dân ngày càng nhiều là nguyên nhân phát sinh các khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai trong nhân dân. Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.( Luật Khiếu nại năm 2011) Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.(Luật Tố cáo năm 2011) Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Cơ sở pháp lý về khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai 1. Các văn bản pháp luật của Trung Ương về khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai - Luật Đất đai số 45/2013/QH13, ngày 29/211/2013 năm 2013; - Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; - Luật Tố cáo số 03/2011/QH13 ngày 11/11/2011; - Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai.
e 6 - Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại. - Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điềucủaLuật Tố cáo; - Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết tố cáo; - Thông tư số 02/TT/TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31 tháng 10 năm 2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính. - Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 26/5/2014 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Văn bản pháp quy của tỉnh Thái nguyên Chỉ thị số 05-CT/TU, ngày 11/3/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thái Nguyên về việc tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo và tranh chấp về đất đai 1. Các khái niệm * Khái niệm khiếu nại đất đai: Khoản 2 Điều 204 Luật Đất đai năm 2013 có quy định rõ: Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại. Khoản 1 Điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của e 7 người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.” Như vậy, khiếu nại là một hình thức công dân hướng đến các cơ quan nhà nước hay tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang khi thấy quyết định hành chính hay hành vi hành chính của họ xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Mặt khác, khiếu nại là phương tiện mà nhờ đó cơ quan nhà nước hay tổ chức, những người có chức vụ kiểm tra được tính hợp pháp, hợp lý của các quyết định hành chính, hành vi hành chính do mình ban hành hay thực hiện.
Về mặt pháp luật, quyền khiếu nại của công dân luôn được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của nhà nước ta. Khiếu nại có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản (đơn khiếu nại) hoặc trình bày trực tiếp. * Khái niệm Tố cáo về đất đai: Khoản 2 Điều 205 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo. Khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.” Mục đích của tố cáo không chỉ dừng ở việc bảo vệ và khôi phục quyền và lợi ích của người tố cáo mà cao hơn thế là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Nhà nước vững vàng về tư tưởng chính trị, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ để “chí công, vô tư” trong khi thi hành các nhiệm vụ do Đảng và Nhà nước phân công.
Phân biệt khiếu nại và tố cáo. Khiếu nại và tố cáo đều là các quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp, Luật. Khiếu nại và tố cáo là một trong những phương thức thực hiện quyền tự do, dân chủ, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, giảm bức xúc trong nhân dân. Đây cũng là một trong những phương thức để nhân dân thực hiện quyền kiểm tra, giám sát của mình đồng thời thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Mục đích của khiếu nại, tố cáo đều hướng tới việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền. Theo quy định của pháp luật, khiếu nại và tố cáo là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau nhưng lại thường được nhắc đến cùng nhau. Trên thực tế, đã có không ít trường hợp công dân không phân biệt được một cách rõ ràng đâu là nội dung khiếu nại, đâu là nội dung tố cáo, vì vậy hầu hết các đơn thư gửi tới các cơ quan, đơn vị, các bộ phận tiếp nhận đơn thư đều bao gồm cả nội dung việc khiếu nại và tố cáo. Do đó, đã gây ra không ít khó khăn cho cán bộ làm công tác tiếp nhận và xử lý đơn thư và quá trình giải quyết của cơ quan có thẩm quyền.
Việc phân biệt giữa khiếu nại với tố cáo có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp công dân thực hiện quyền khiếu nại, quyền tố cáo của mình đúng trình tự, thủ tục và gửi đơn thư đến đúng nơi có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định; đồng thời giúp cho cơ quan nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo nhanh chóng, kịp thời theo quy định của pháp luật và tránh được các nhầm lẫn, sai sót trong quá trình xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Khiếu nại và tố cáo khác nhau ở một số điểm cơ bản như sau: - Một là, về chủ thể thực hiện khiếu nại, tố cáo: Chủ thể thực hiện khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức khi có căn cứ cho rằng quyền lợi của mình bị xâm hại bởi một quyết định hành chính, hành e 9 vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước. Cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định kỷ luật đối với họ.