Chương 1 trình bày tổng quan về khái niệm, các lý thuyết về động lực làm việc của nhân viên, các nghiện cứu khoa học về động lực làm việc của nhân viên. Trên cơ sở đó, tác giả xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức của Trung tâm Văn hóa tỉnh Đắk Lắk.1 Khái niệm động lực làm việc của nhân viên tại tổ chức Theo Robbins (1998) định nghĩa rằng động lực làm việc hoặc động viên khuyến khích trong công việc (work motivation) là “Sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ”. Còn theo Hezbeg (1959) cho rằng “Động lực làm việc là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt tới mục tiêu của tổ chức”. Ngoài ra, theo Gail Carr (2005) mô tả động lực làm việc hay sự thúc đẩy trong công việc là một sự thúc đẩy từ bên trong, dựa trên nền tảng các nhu cầu cơ bản một cách có ý thức và vô thức của một cá nhân mà chính điều đó dẫn dắt nhân viên làm việc để đạt được mục tiêu.
Hay nói cách khác, động lực là lý do mà nhân viên duy trì làm việc đóng góp tích cực cho môi trường làm việc của mình. Động lực thúc đẩy là xu hướng và sự cố gắng nhằm đạt được mong muốn hoặc mục tiêu nhất định, còn sự thỏa mãn là sự toại nguyện khi điều mong muốn được đáp ứng. Như vậy, động lực thúc đẩy hàm ý xu thế hướng tới một kết quả mong muốn, còn sự thỏa mãn là kết quả được thực hiện một (Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy, 2011). Động lực làm việc là một trạng thái phức tạp bên trong mà chúng ta không thể quan sát một cách trực tiếp nhưng nó tác động lên hành vi.
Theo Yalokwu (2006) động lực liên quan đến toàn bộ trạng thái cố gắng bên trong thường được mô tả như những khao khát, nỗ lực và mong ước, những điều này khiến chúng ta phải hành động theo một cách nào đó. Đó là trạng thái nội tâm mà nó tác động và thúc đẩy toàn bộ chúng ta. Tuy nhiên, Daft (2006) không chỉ nhận thấy động lực làm việc là sức mạnh bên trong mà còn là sức mạnh bên ngoài hoặc là bao gồm cả hai sức TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 mạnh để đưa đến những hành động kiên trì tới khi đạt được mục tiêu đề ra. Ta có thể phân động lực thành hai yếu tố cấu thành căn bản: - Động lực nội tại (intrinsic motivation) chính là các nhu cầu hoàn thành, thành công và hài lòng trong công việc cá nhân.
Deci (1975) cho rằng cá nhân muốn làm việc để hiểu được khả năng của mình và tự quyết trong công việc, cá nhân đó làm việc tốt không vì mục tiêu để có được phần thưởng của doanh nghiệp mà vì phần thưởng cho chính mình; - Động lực bên ngoài (extrinsic movitation) được thúc đẩy bởi tất cả những yếu tố bên ngoài như phần thưởng, khen thưởng, phản hồi công việc, thời hạn hoàn thành công việc, yêu cầu công việc, hoạt động giám sát, lương thưởng, thăng tiến và đạo tạo.nhằm kích thích hiệu quả làm việc của cá nhân. Những thành tích của cá nhân và mục tiêu của tổ chức là những quá trình độc lập được liên kết bởi động lực làm việc của nhân viên. Rensis Likert cho rằng việc tạo động lực làm việc cho nhân viên là cốt lõi của quản trị. Phương pháp tạo động lực làm việc là một công cụ quản trị hữu hiệu trong việc truyền cảm hứng đến người lao động.
Một nhiệm vụ chính của mỗi nhà quản trị là tạo động lực cho cấp dưới của mình hay là tạo ra sự quyết tâm làm việc cho họ. Các nhà quản trị trong công ty có thể thăm dò lý do vì sao họ phải chú trọng đến việc nâng cao động lực làm việc cho nhân viên, ngoài ra có thể phỏng vấn, thảo luận nhóm hay khảo sát để thấy được thực trạng động lực làm việc của nhân viên đang ở mức như thế nào. Từ đó, thông qua việc tạo động lực làm việc, các nhà quản trị có thể tận dụng năng lực lớn của nhân viên để gia tăng mức cống hiến của mỗi người lao động. Theo Woolfolk (2001), mục tiêu là kết quả hay sự đạt được mà mỗi cá nhân nỗ lực để có nó.
Có bốn loại mục tiêu khác nhau ảnh hưởng đến các cấp độ tạo động lực làm việc cho nhân viên để thỏa mãn mong muốn của họ, từ đó họ sẽ cống hiến sức lao động để đạt được mục tiêu của tổ chức. - Một là mục tiêu học hỏi sẽ thúc đẩy nhân viên hiểu rõ công việc và thực hiện công việc tốt hơn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 - Hai là mục tiêu thể hiện thúc đẩy nhân viên làm việc để được người khác nhìn nhận là mình có năng lực. - Ba là mục tiêu né tránh công việc liên quan đến những cá nhân không muốn làm việc nhưng lại thích thể hiện và được công nhận.
- Bốn là mục tiêu cộng đồng, nó thúc đẩy nhân viên làm thế nào để được chấp nhận và được yêu thích bởi những người khác gồm cả cá nhân khác và đoàn thể. \ Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực làm việc của nhân viên, tuy nhiên có thể rút ra được rằng động lực là nguồn tạo ra sự mong muốn khao khát của cá nhân để thỏa mãn nhu cầu về tâm sinh lý của họ. Tổ chức cần phải tìm ra các yếu tố tạo động lực, kích thích nhân viên để khuyến khích họ thực hiện công việc tốt nhất, giúp tổ chức duy trì và đạt được mục tiêu dài hạn. Động lực làm việc được hiểu như một nội lực của từng bản thân nhân viên thúc đẩy họ hoàn thành mục tiêu cá nhân, tổ chức.
Những nghiên cứu trước đây về động lực làm việc của nhân viên thường chú trọng đến thỏa mãn các nhu cầu (Mendenhall, 1995). Các lý thuyết nhu cầu trước đây đều cho rằng động lực là nguồn lực tạo ra từ sự mong muốn, khao khát của cá nhân để thỏa mãn về các nhu cầu tâm sinh lý của họ. Do đó, trong bài nghiên cứu của mình, tác giả chủ yếu dựa trên các lý thuyết cũng như các nghiên cứu đã có về việc thỏa mãn nhu cầu cá nhân Barton và Martin (1998) đã chia các lý thuyết về động viên thành ba nhóm: - Thuyết nhu cầu (Need Theories) - Thuyết nhận thức (Cognitive Theories) - Thuyết củng cố (Reinforcement Theories) 1.2 Các lý thuyết liên quan đến nhu cầu (Needs Theories) Lý thuyết động lực liên quan đến nhu cầu được dựa trên sự hiểu biết rằng động lực xuất phát từ mong muốn của một cá nhân để hoàn thành hoặc đạt được mục tiêu đề ra. Động lực có thể được định nghĩa là mong muốn, quyết tâm và nỗ lực, nắm bắt cơ hội để đạt được mục tiêu.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Thuyết nhu cầu của Maslow (1943) Năm 1943, Abraham Maslow đã phát triển một trong những lý thuyết đầu tiên của động lực con người, được gọi là hệ thống cấp bậc nhu cầu Maslow. Thuyết nhu cầu của Maslow được đánh giá là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người. Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự từ thấp đến cao. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp thành năm bậc sau: Nhu cầu sinh lý: Là những nhu cầu đảm bảo cho con người tồn tại như: Ăn, uống, ngủ, mặc, tồn tại và phát triển nòi giống.
Nhu cầu an toàn: Là những nhu cầu cuộc sống được đảm bảo an toàn, an ninh, không có mối nguy hiểm hay đe dọa. Nhu cầu xã hội: Là các nhu cầu về tình yêu, tình bạn, hoạt động xã hội. Nhu cầu tôn trọng: Là các nhu cầu về tự trọng, tôn trọng người khác, được người khác tôn trọng, địa vị. Nhu cầu hoàn thiện: Là các nhu cầu như chân, thiện, mỹ, tự chủ, sáng tạo, hài hước, hoàn thiện bản thân.
Tập hợp năm nhu cầu nêu trên được chia thành hai loại: nhu cầu cơ bản cần thiết cho sự tồn tại của con người, và nhu cầu bậc cao liên quan đến các hoạt động xã hội, nhu cầu được tự trọng và khẳng định mình. Hệ thống cấp bậc của Maslow thường được hiển thị trong một mẫu kim tự tháp, nhu cầu cơ bản phía dưới và nhu cầu cao hơn ở phía trên. Mô hình thể hiện tầm quan trọng của từng loại nhu cầu của con người, trong đó quan trọng nhất và rộng nhất là nhu cầu sinh lý cơ bản. Con người thường hoạt động theo nhu cầu của bản thân, chính sự thỏa mãn nhu cầu làm họ thỏa mãn và khuyến khích họ hành động.
Nói cách khác, việc thỏa mãn nhu cầu là mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào nhu cầu sẽ thay đổi hành vi con người. Do đó, nếu muốn thúc đẩy ai đó chúng ta phải hiểu người đó đang ở cấp bậc nào của sự phân cấp và tập trung làm thỏa mãn các nhu cầu ở cấp độ đó hoặc thấp hơn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1 Các cấp bậc nhu cầu của Maslow (Nguồn: Organnization Behaviour, 2007) 1.2 Thuyết hai yếu tố của Hezberg (1959) Fredrick Hezberg đã đưa ra thuyết hai yếu tố dựa trên nghiên cứu của Mayo và Coch & French. Lý thuyết hai yếu tố cho rằng có một số yếu tố trong môi trường làm việc tạo nên sự hài lòng công việc, trong khi một số khác gây ra sự bất mãn.
Yếu tố thứ nhất là yếu tố duy trì, yếu tố thứ hai là yếu tố thúc đẩy. Tuy nhiên, Hezberg cho rằng vẫn còn tồn tại một khoảng trung tính giữa sự hài lòng và sự bất mãn, nghĩa là người lao động cảm thấy không hài lòng chứ chưa hẳn là bất mãn hay không bất mãn chứ không được hài lòng thật sự. Các yếu tố thúc đẩy như sự thành đạt, sự công nhận, bản thân công việc, trách nhiệm và cơ hội phát triển được xem như yếu tố nội tại. Các yếu tố duy trì như điều kiện làm việc, chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên và mối quan hệ giữa các cá nhân, tiền lương, địa vị, công việc ổn định là những yếu tố bên ngoài.