CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Khái niệm về người lao động Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012 định nghĩa: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. "Người lao động" là "danh từ chung dùng để nói đến những người làm công ăn lương" bằng sức lao động hoặc trí óc làm ra các sản phẩm vật chất hoặc về tinh thần cho người khác.
Khái niệm động lực làm việc Bất kỳ một tổ chức nào cũng mong muốn người lao động của mình hoàn thành tốt công việc mà tổ chức giao cho người lao động để thực hiện tốt cho mục tiêu của tổ chức. Trong tổ chức có những nhóm người chuyên tâm làm việc dẫn tới hiệu quả công việc cao tuy nhiên sẽ có nhóm người làm việc không tốt không có hứng thú dẫn đến hiệu quả công việc thấp. Theo như nghiên cứu của Farhaan (2009) thì khi nhân viên có động lực làm việc thì hiệu quả công việc sẽ đạt được hiệu suất lên đến 80-90%, tỉ lệ nghỉ việc, nghỉ phép thấp. Điều này cho ta thấy khi tạo được động lực làm việc cho nhân viên, không những sẽ đem lại hiệu suất cao trong công việc, mà còn gia tăng lòng trung thành của họ đối với tổ chức.
Kovach (1995) đã chỉ ra là “Vấn đề lớn nhất trong quản trị là nhận biết được chính xác các nhân tố thúc đẩy làm việc của nhân viên”. Qua đó ta thấy được vấn đề sống còn của mọi tổ chức là cần sớm nhận biết được những vấn đề nào có tác dụng lớn trong thúc đẩy động lực làm việc của nhân viên, từ đó đưa ra các chính sách động viên đúng chổ sẽ mang lại hiệu quả cao nhất cho tổ chức. Như vậy, vấn đề tạo động lực làm việc cho người lao động là vấn đề của tổ chức. Các tổ chức cần chủ động xem xét, tìm kiếm và đưa ra những giải pháp nhằm tạo động lực làm việc cho người lao động.
Tuy nhiên, không phải các giải pháp tạo 123doc 6 động lực nào cũng có thể hoàn hảo cho tất cả vấn đề, bởi mỗi người đều có một nhu cầu riêng của mình và nguồn lực tài chính và nguồn lực con người là có hạn. Vì vậy, tổ chức phải xem xét và lựa chọn những vấn đề ưu tiên cần giải quyết trước trong phạm vi nguồn lực của mình để các quyết định chính sách tối ưu nhất có thể thực hiện được. Có nhiều khái niệm về động lực làm việc, một số khái niệm có thể kể đến như: Nghiên cứu của Whiseand và Rush (1988) cho rằng động lực như là sự sẵn lòng của cá nhân để làm việc gì đó và ảnh hưởng lên các hành động nhằm thỏa mãn các nhu cầu. Theo Luthans (1998) định nghĩa động lực như là một quá trình bắt đầu với sự thiếu hụt nhu cầu sinh lý hoặc nhu cầu nào đó có thể kích hoạt một hành vi, động cơ để nhắm vào mục tiêu mong muốn.
Theo Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy (2011) thì động lực làm việc hay động viên, khuyến khích trong công việc được định nghĩa là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trong điều kiện một số nhu cầu cá nhân được thỏa mãn theo khả năng nỗ lực của họ. Do đó có thể hiểu: Động lực gắn với công việc, tổ chức và môi trường làm việc, thể hiện qua việc làm cụ thể đối với mỗi người và sự thể hiện về thái độ làm việc của họ đối với t tổ chức. Đó là sự tự nguyện để đạt mục tiêu là tăng cường mọi nỗ lực để đạt được kế hoạch cụ thể của tổ chức đề ra. Động lực giúp thúc đẩy con người làm những việc mà sau khi hoàn thành công việc họ sẽ được đáp ứng được những nhu cầu, nguyện vọng của họ.
Động lực là mục tiêu, kết quả cụ thể vì vậy không có mục tiêu, không có kết quả thì không thể có động lực. Các học thuyết về tạo động lực 1. Học thuyết về nhu cầu của Abraham Maslow Maslow (1908 - 1970) là một học giả về quản lý và tâm lý học của Mỹ được người ta viện dẫn tương đối nhiều. Maslow chia nhu cầu thành năm cấp bậc như hình 1.
Các nhu cầu đó là: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng, nhu cầu phát triển và tự khẳng định.1: Tháp nhu cầu Maslow (Nguồn: Maslow, 1970) Nhu cầu sinh lý: là các nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: ăn, uống, ngủ, nghỉ, bài tiết, tình dục…ông cho rằng nếu như một con người không thỏa mãn các nhu cầu cơ bản này thì họ sẽ không xuất hiện các nhu cầu cao hơn. Để đáp ứng nhu cầu này, tổ chức cần nắm rõ xem người lao động của mình có hoàn cảnh như thế nào, tùy vùng đang sinh sống để tạo một mức lương hợp lý để người lao động có thể lo cho họ và gia đình thỏa mãn nhu cầu cần thiết. - Nhu cầu an toàn: khi đã thỏa mãn các yếu tố nhu cầu cơ bản của con người thì nhu cầu được an toàn là nhu cầu thứ hai của con người thông qua mong muốn được ổn định trong cuộc sống, được sống trong hòa bình và an ninh tốt. Để đáp ứng nhu cầu thứ hai này tổ chức cần phải biết các quy định về an toàn lao động, có chính sách đáp ứng xe đưa đón nhân viên….
- Nhu cầu giao tiếp xã hội: là mong muốn của một xã hội, thể hiện qua quá trình giao tiếp, giao lưu, kết bạn…. Nhu cầu này là sự kết nối con người lại với nhau tạo ra tiếng nói, mục tiêu chung. Để đáp ứng được nhu cầu này, tổ chức cần có những buổi họp mặt, những buổi hoạt động ngoài trời cho nhân viên giao tiếp và làm quen với nhau…. - Nhu cầu tôn trọng: nhu cầu thể hiện sự được người khác tôn trọng, nể phục 123doc 8 thông qua các khẳng định, thành quả của bản thân.
Nhu cầu này xuất hiện khi bản thân người lao động cảm nhận được sự quý trọng, danh tiếng và sự tự tin vào khả năng của bản thân. Đáp ứng được nhu cầu này giúp cho người lao động làm việc tích cực hơn và muốn cống hiến nhiều hơn. - Nhu cầu tự khẳng định: Theo Maslow, ông cho rằng đây là nhu cầu cao nhất trong sự phát triển của một con người. Đó là mong muốn, khao khát của một đời người, họ sẽ tìm ra tiềm năng của mình đạt tới mức tối đa để hoàn thành một mục tiêu lớn trong cuộc đời.
Học thuyết về sự tăng cường tích cực của B. Skinner Học thuyết này được đưa ra dựa vào những công trình nghiên cứu của Burrhus Frederic Skinner. Theo Burrhus Frederic Skinner sự củng cố có 2 loại: tích cực và tiêu cực. Củng cố tích cực là sự củng cố hành vi bằng cách thể hiện một kích thích mong muốn sau khi có một hành vi.
Củng cố tiêu cực cũng làm tăng cường hành vi mà chúng kéo theo. Cả củng cố tiêu cực và tích cực, về phương diện chức năng, đều làm tăng cường hành vi. Một sự kiện là củng cố tiêu cực chỉ khi sự lấy chúng đi làm tăng việc thực hiện của phản ứng. Vì vậy để tạo động lực cho người lao động thì người lãnh đạo, quản lý có thể thực hiện cả 2 sự củng cố tùy vào hành động của người lao động: Củng cố tích cực: Khen thưởng: tổ chức ra quyết định khen thưởng cho nhân viên có thành tích tốt giúp họ phát huy và cố gắng hơn nữa để phát triển công việc mà người lao động làm tốt trước đó.
Hình thức khen thưởng là: giấy khen, bằng khen, hiện vật, tiền mặt… tùy theo quy định của tổ chức. Sử dụng hình phạt: tổ chức ra quyết định xử phạt đối với nhân viên có thái độ kém, thành tích kém để họ sửa đổi. Hình thức xử phạt là: phê bình, hạ bậc lương, nặng nhất là đuổi việc. Củng cố tiêu cực: Làm ngơ là khi nhân viên làm sai, tổ chức coi như không biết việc đó và không nhắc đến sự việc đó.
Việc này chỉ áp dụng khi nhân viên mắc 123doc 9 một số lỗi nhỏ mà không làm ảnh hưởng đến công việc. Tuy nhiên việc áp dụng biện phát này có thể dẫn đến tính ỉ lại của nhân viên trong tổ chức. Học thuyết về sự kỳ vọng của Victor Vroom Kỳ vọng chính là mong muốn nhận được cái gì sau khi hoàn thành một công việc hoặc một nhiệm vụ nào đó. Nếu ta biết được mong muốn của người lao động thì sẽ kích thích họ nỗ lực làm việc hơn từ đó sẽ tạo ra thành tích cao hơn.
Nếu kích thích đúng thì sẽ tạo ra lợi ích cho cả hai phía là người lao động và tổ chức. Công thức của thuyết kì vọng: Sự động viên = Hấp lực x Mong đợi x Phương tiện Trong đó: Hấp lực: Sức hấp dẫn của mục tiêu nào đó (phần thưởng). Mong đợi: sự nỗ lực làm việc của NLĐ để hoàn thành công việc (thực hiện công việc) Phương tiện: niềm tin về sự đền đáp khi hoàn thành công việc (đánh giá công việc) Ba yếu tố này tạo nên sự động viên cho người lao động, nếu sử dụng tốt ba yếu tố trên thì người quản lý sẽ có thể giúp tổ chức hoàn thành mục tiêu mà tổ chức đã đề ra. Học thuyết công bằng của J.
Stacy Adams Là sự so sánh của một NLĐ từ những công sức mà họ bỏ ra trong tổ chức (đầu vào) và những thứ NLĐ nhận được khi công việc hoàn thành (đầu ra). - “Đầu vào” thường bao gồm: Sự cố gắng, lòng trung thành, công việc khó khăn, cam kết, kỹ năng, năng lực, khả năng thích nghi, sự mềm dẻo trong xử lý công việ, lòng khoan dung, sự quyết tâm, hăng hái, tin tưởng vào cấp trên, hỗ trợ của các đồng nghiệp và hy sinh cá nhân. - Kết quả “đầu ra” thường bao gồm phần thưởng tài chính (như tiền lương, phúc lợi, đặc quyền) và phần thường phi tài chính bao gồm: Công nhận, uy tín, trách nhiệm, 123doc 10 ý nghĩa của thành tựu, khen ngợi, kích thích kinh tế, cảm giác thăng tiến, lớn lên, được trải nghiệm và sự bảo đảm công việc.