CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY VÀ NÂNG CAO ĐỘNG LỰC THỨC ĐẨY NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm cơ bản a. Khái niệm nguồn nhân lực [3][27] Mặc dù nhà máy, trang thiết bị và tài sản chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần có, thế nhưng con người - nguồn nhân lực, vẫn là đặc biệt quan trọng.
Nguồn nhân lực đảm bảo nguồn lực sống trong mọi tổ chức. Con người thiết kế và sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, kiểm tra chất lượng, đưa sản phẩm ra bán trên thị trường, phân bố nguồn tài chính, xác định những chiến lược chung và các mục tiêu cho tổ chức đó. Không có những con người làm việc có hiệu quả thì mọi tổ chức đều không thể nào đạt tới các mục tiêu của mình. Nguồn nhân lực chính là một nguồn lực sống, là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp, là nguồn lực mang tính chiến lược và là một nguồn lực vô tận.
Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động). Gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp. Nhu cầu của người lao động [22] Nhu cầu là tất cả những đòi hỏi, những mong ước xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau (như mặt xã hội, mặt tâm sinh lý.) nhằm đạt được mục đích. Nhu cầu là trạng thái tâm sinh lý của con người nhằm đạt được cái gì đó.
Hay “Nhu cầu là sự cảm nhận trong nội tâm con người về cái cần thiết cho mình để sống và phát triển”. Luan van 5 Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động.Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhất định: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thỏa mãn nhu cầu). Nhu cầu của một cá nhân đa dạng và vô tận, người quản lý chỉ kiểm soát những nhu cầu có liên quan đến hiệu quả làm việc của mỗi cá nhân. Nếu tìm cách thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân đồng thời biết cách tạo ra một nhu cầu khác theo định hướng của mình, thì người lãnh đạo có thể chi phối được cá nhân.
Hệ thống nhu cầu của con người phong phú và đa dạng, thường xuyên tăng lên về chất lượng và số lượng. Khi một nhu cầu được thoả mãn lập tức xuất hiện nhu cầu khác cao hơn. Mỗi hoạt động con người đều hướng vào đích nhất định. Khi người lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn được thoả mãn những yêu cầu, những đòi hỏi, mong muốn mà họ đã có hoặc có nhưng chưa đủ.
Sự thoả mãn đó có thể là vật chất hay tinh thần. Việc không ngừng thoả mãn những nhu cầu của con người là một trong những nhân tố quan trọng để làm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao nền sản xuất xã hội chủ nghĩa và thường xuyên áp dụng các biện pháp khuyến khích về vật chất và về tinh thần đối với người lao động. Hiểu được nhu cầu của người lao động là nhân tố quan trọng giúp cho các chính sách của doanh nghiệp gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tư của họ. Mỗi khi nhu cầu của người lao động được thoả mãn thì mức độ hài lòng của người lao động về công việc và tổ chúc của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắn kết nhiều hơn với doanh nghiệp.
Ngày nay các doanh nghiệp thành công rất chú ý đến yếu tố này và coi đây là một chiến lược quan trọng để giữ chân người lao động. Động cơ thúc đẩy người lao động [15] Trong cơ học, động cơ là thiết bị dùng để biến đổi một dạng năng lượng nào đó thành cơ năng. Còn trong kinh tế, động cơ là cái có tác dụng chi phối, thúc đẩy người ta suy nghĩ và hành động gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu của con người. Để có thể thoả mãn được nhu cầu, con người cần tham gia vào quá trình lao động sản xuất.
Chính vì vậy, nhu cầu của con người tạo ra động cơ thúc đẩy họ tham gia vào nền sản xuất xã hội. Trong quản lý, các nhà quản trị cần phải nghiên cứu tìm hiểu về động cơ của người lao động để có biện pháp kích thích tạo động lực, phát huy tối đa khả năng của các cá nhân và các nhóm nhằm đạt được mục tiêu chung của cả doanh nghiệp, đồng thời đạt được mục tiêu của từng người lao động. Nói chung, người lao động có động cơ làm việc một cách tự nhiên. Động cơ này đều bắt nguồn từ một thực tế là mọi người đều mong muốn được khẳng định bản thân mình, được thành đạt, được tự chủ và có thẩm quyền đối với công việc của mình, cũng như muốn có thu nhập đảm bảo cuộc sống cá nhân sung túc.
Chính vì vậy, để người lao động làm việc tốt thì người sử dụng lao động cần phải loại trừ những hoạt động tiêu cực có thể làm triệt tiêu động cơ làm việc tự nhiên của người lao động. Kế tiếp, cần phải phát triển những yếu tố thực sự có thể thúc đẩy tất cả các nhân viên làm việc, bằng cách nào đấy, người sử dụng lao động sẽ tận dụng được động cơ thúc đẩy của nhân viên. Động lực thúc đẩy người lao động [15] Một tổ chức chỉ có thể đạt được năng suất cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản lí sử dụng để tạo động lực thúc đẩy làm việc cho nhân viên.
Luan van 7 Động lực thúc đẩy là cái thúc đẩy, kích thích người lao động làm việc và cống hiến. Động lực được hình thành bởi nhu cầu và lợi ích. Nhu cầu là những đòi hỏi của con người muốn có điều kiện nhất định để sống và phát triển. Lợi ích là những nhu cầu được thỏa mãn.
Động lực thúc đẩy là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm vệc của con người. Do đó hành vi có động lực hay là hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như: văn hoá của tổ chức, tiền lương, điều kiện làm việc, mục tiêu của tổ chức, các mối quan hệ con người, chế độ quản trị và các chính sách, cũng như sự thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân con người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn như nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị. Vai trò của động lực thúc đẩy người lao động Vai trò của động lực thúc đẩy làm việc đối với mỗi cá nhân Người lao động làm việc trong một doanh nghiệp đều có những mối quan tâm và mong muốn riêng được thể hiện qua các mối quan hệ.
Xét trên tổng thể, việc thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn của người lao động sẽ tạo động lực và tinh thần lao động tốt và là yếu tố rất quan trọng để khuyến khích người lao động. Chế độ, chính sách, môi trường và điều kiện làm việc của doanh nghiệp sẽ là những yếu tố tác động trực tiếp đến sự thỏa mãn của người lao động và ảnh hưởng tới hiệu quả làm việc cũng như trong cuộc sống riêng tư của họ. Mức độ thỏa mãn các mong muốn của người lao động được đánh giá bằng sự so sánh với những mong muốn cần đạt được khi thực hiện công việc với thực tế mà người lao động đạt được. Sự thỏa mãn càng cao sẽ là cơ sở để họ nhiệt thành trong công việc, phát triển bản thân và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ.
Luan van 8 Vai trò của động lực thúc đẩy làm việc đối với tổ chức Khuyến khích người lao động là yếu tố căn bản nhất để người lao động gắn bó với công việc và làm việc tốt hơn. Nhân viên được thỏa mãn sẽ giúp họ tích cực hơn trong công việc, nâng cao hiệu quả làm việc, giảm được một số chi phí không cần thiết. Hơn nữa, một doanh nghiệp thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với người lao động sẽ giữ chân được những người có năng lực, đồng thời sẽ thu hút được những người có khả năng trên thị trường lao động. Các học thuyết về nâng cao động lực thúc đẩy người lao động[31] a.
Lý thuyết "X" cổ điển và lý thuyết "Y" Lý thuyết "X" giả định rằng con người lười biếng và không đáng tin cậy. Con người không có tham vọng, không đưa ra bất kỳ sáng kiến nào bằng cách né tránh mọi trách nhiệm. Tất cả những gì con người muốn là sự an toàn cho bản thân, không phải làm bất cứ điều gì. Do vậy, con người cần được thúc đẩy bằng tiền lương, thưởng, cần được ép buộc, bị cảnh cáo và bị phạt.
Các nhà quản lý tôn sùng thuyết “X” có hai công cụ tạo động lực: cây gậy và củ cà rốt. Môi trường làm việc theo thuyết “X” được đặc trưng bởi nhiều biện pháp gây áp lực của cấp trên, sự kiểm soát chặt chẽ đối với công việc của nhân viên có phạm vi chuyên môn hẹp. Trong bầu không khí ngột ngạt như vậy sẽ không có cơ hội mang lại sự thành công hay sáng tạo nào cả. Hoàn toàn trái ngược với thuyết "X", McGregor lại tin rằng con người luôn mong muốn học hỏi và đó là hành vi thuộc về bản chất nhân loại, nhờ đó họ tự xây dựng tính kỷ luật và tự phát triển.
Con người không coi trọng phần thưởng thể hiện bằng tiền bạc mà coi trọng quyền tự do được đương đầu với khó khăn và thử thách. Công việc của nhà quản ký là tạo điều kiện cho ước nguyện tự phát triển và hướng chúng vào nhu cầu chung của tổ chức là hiệu quả năng suất tối đa. Do đó, các mục tiêu cơ bản của cả người quản lý và bị Luan van 9 quản lý đều được đáp ứng với sự chân thành và tiềm năng rất lớn được khai thác. Như vậy, theo thuyết "X", con người bị thúc đẩy bởi tiền bạc, bổng lộc và sự đe dọa trừng phạt.
Còn theo thuyết "Y", để tạo động lực cho người lao động cần phải biết cách khơi dậy tiềm năng ở họ.