Chương 1 Những vấn đề chung về nâng cao doanh thu từ sản phẩm dịch vụ ngoài tín dụng trong hoạt động tại ngân hàng thương mại. Hoạt động của Ngân hàng thương mại. Khái niệm Ngân hàng thương mại [11] Ngân hàng thương mại ( NHTM ) có nhiều cách khái niệm khác nhau song nhìn chung mọi quốc gia đều thống nhất định nghĩa: Ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế, đặc biệt là dịch vụ tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán. Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 11/12/1997 quy định: “Hoạt động Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán” và “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan”.
Như vậy, Ngân hàng là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Hoạt động ngân hàng phục vụ các doanh nghiệp, các cá nhân thông qua các dịch vụ của mình. Nói chung, định nghĩa NHTM ở Việt Nam cũng không khác nhiều với định nghĩa NHTM ở nhiều nước khác trên thế giới thể hiện trên các mảng hoạt động căn bản mà chúng được phép thực hiện. Các hoạt động dịch vụ kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1.
Dịch vụ huy động vốn Nguồn vốn của các Ngân hàng thu hút được theo 3 kênh chính gồm: Nhận tiền gửi, vay vốn trên thị trường và thu vốn sở hữu. Huy động tiền gửi: Các hoạt động tiền gửi dưới các hình thức cơ bản như nhận tiền không kỳ hạn, có kỳ hạn hoặc tiền gửi tiết kiệm. 11 Tiền gửi không kỳ hạn là loại vốn hình thành khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng vì các nhu cầu giao dịch, Ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản thanh toán, khi khách hàng nộp tiền vào tài khoản trên đó thể hiện rõ số tiền mà họ gửi vào và khách hàng có quyền phát hành séc để chi trả cho bên thứ ba hoặc rút tiền mặt ở bất kỳ thời điểm nào. Chủ tài khoản được hưởng lãi không kỳ hạn.
Người sở hữu chủ yếu đối với các khoản tiền gửi không kỳ hạn thường là các doanh nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu về chi trả thường xuyên và thuộc về vốn lưu động của doanh nghiệp. Phần nhỏ hơn thuộc sở hữu của các cá nhân và các hộ gia đình. Ngoài chi trả lãi ( nếu có) khi huy động tiền gửi không kỳ hạn ngân hàng còn phải bỏ ra các chi phí như chi phí nhân sự và thiết bị, chi phí do phải duy trì dự trữ bắt buộc, chi phí do phải cung cấp những dịch vụ miễn phí. Tiền gửi tiết kiệm là loại nguồn vốn hình thành khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích tiết kiệm, gồm: tiền gửi tiết kiệm trên sổ tiết kiệm, tài khoản có sao kê tình hình gửi tiền tiết kiệm và chứng chỉ tiết kiệm.
Tiền gửi tiết kiệm thường không có mức giới hạn về số tiền, có hoặc không có thời hạn đáo hạn cố định. Chủ tài khoản tiền gửi tiết kiệm thông thường là các cá nhân và hộ gia đình. Họ được hưởng lãi và có quyền rút tiền tiết kiệm khi đến hạn nếu là tiền tiết kiệm có thời hạn, nhưng ngay cả tiền tiết kiệm không kỳ hạn thì ngân hàng vẫn có thể hoãn thanh toán trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Đối với ngân hàng, tiền tiết kiệm là nguồn vốn khá ổn định, cho phép ngân hàng chủ động trong việc đầu tư chúng vào các kế hoạch sinh lời.
Tuy nhiên ngoài những khoản phí tương tự như tiền gửi không kỳ hạn, chi phí thu hút nguồn vốn này đối với ngân hàng lại đắt hơn do phải trả lãi và do đa phần những món tiết kiệm thường nhỏ, phân tán. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là nguồn vốn có đặc điểm là người gửi được Ngân hàng trao cho giấy chứng nhận gửi tiền có thời hạn đáo hạn ấn định trước. Người gửi không được rút tiền trước hạn, nếu rút trước hạn chỉ được hưởng lãi không kỳ hạn. Người gửi chủ yếu là các cá nhân, các tổ chức và họ cũng được hưởng lãi suất, nhưng lãi suất có thể được ấn định cố định hoặc linh hoạt.
Những món tiền gửi có kỳ hạn kiểu này thường có giá trị trung bình lớn hơn so với giá trị 12 trung bình của những món tiền gửi tiết kiệm, Một số chứng chỉ có khả năng chuyển nhượng trên thị trường, đa số phần còn lại thường không có khả năng chuyển nhượng hoặc chỉ có khả năng chuyển nhượng hạn chế. Đối với các Ngân hàng, nguồn tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn nhìn chung lãi suất đắt hơn với các khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn nhưng lại cho phép ngân hàng mở rộng thời hạn cho hay đầu tư. Vay vốn trên thị trường. Ngoài nguồn tiền gửi, các Ngân hàng còn chủ động vay vốn trên thị trường, Nhưng hình thức chủ yếu là vay từ Ngân hàng trung ương (NHTW), vay từ số dư tài khoản dự trữ của ngân hàng khác tại NHTW, vay vốn qua phát hành các hợp đồng mua lại, phát hành trái phiếu ngân hàng.
Các Ngân hàng có thể vay vốn ngắn hạn từ Ngân hàng trung ương để bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ, khi cần đáp ứng nhu cầu chi trả thường xuyên do tiền gửi bị tạm thời rút ra hay khi cần đáp ứng các nhu cầu tạm thời khác. Một hình thức khác là Ngân hàng vay vì các nhu cầu thời vụ chẳng hạn như những ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn hay trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân có diễn biến nhu cầu vốn mang tính thời vụ. Khoản đặc trưng khác là các Ngân hàng vay Ngân hàng trung ương khi gặp khó khăn nghiêm trọng về khả năng thanh toán, ở đây Ngân hàng trung ương đóng vai trò là “ người cho vay vốn cuối cùng”. Nhìn chung, hai loại đầu là những hình thức tài sản nợ khá phổ biến của các Ngân hàng.
Tuy vậy đây là nguồn vốn có chi phí khá cao, Ngân hàng thường thiếu chủ động, điều kiện vay thường ngặt nghèo, luôn đòi hỏi có sự đảm bảo khá đầy đủ, thời hạn cho vay thường ngắn, nhất kà trong thời kỳ Ngân hàng trung ương thực hiện chính sách tiền tệ thật chặt. Đặc biệt chi phí đó với các khoản vay loại thứ ba thường lớn và điều kiện cho vay hoàn toàn lệ thuộc vào Ngân hàng trung ương. Các Ngân hàng cũng có thể vay tạm thời số dư nhàn rỗi trên tài khoản dự trữ bắt buộc của các Ngân hàng khác được duy trì tại Ngân hàng trung ương hoặc vay vốn trực tiếp từ các Ngân hàng vay thương mại khỏc. ngõn hàng vay là những Ngân hàng có tài khoản dự trữ bị thiếu hụt hoặc để hỗ trợ ngân quỹ do các nhu cầu 13 tạm thời.
Ngân hàng có thể vay hàng ngày hoặc ngắn hơn, lãi suất tương tự lãi suất chiết khấu ngắn hạn tại Ngân hàng trung ương. Phát lại các hợp đồng mua lại nghiệp vụ trong đó các Ngân hàng tạm thời vay những khoản tiền nhàn rỗi của các tổ chức tài chính hoặc các doanh nghiệp lớn….bằng cách bán tạm thời các tài sản tài chính ( như tín phiếu, trái phiếu Chính phủ, chứng chỉ tiền gửi) mà họ đang sở hữu và ký kết hợp đồng cam kết sẽ mua lại chúng với một giá ấn định trước và ít nhiều cao hơn giá bán. Hợp đồng mua lại được sử dụng khi Ngân hàng cần vốn để tài trợ cho các hoạt động hàng ngày hoặc ngắn hạn của họ, còn hợp đồng bán lại là chính thức sử dụng vốn tiền tệ nhàn rỗi tạm thời nhằm thu lời. Khoản chênh lệch giá ấn định trước chính là lãi suất của hợp đồng mua lại.
Phát hành trái phiếu ngân hàng là một cách thức huy động vốn thông dụng khác của các Ngân hàng. Trong nghiệp vụ này các Ngân hàng phát hành trái phiếu để huy động vốn trên các thị trường chứng khoán. Các trái phiếu này được gọi là trái phiếu ngân hàng. nhìn chung nguồn vốn này có nhiều điềm giống với nguồn hình thành từ việc phát hành chứng chỉ tiền gửi.
Tuy nhiên thời hạn đáo hạn của chúng thường là trung, dài hạn. Mặt khác trái phiếu là công cụ của thị trường vốn công, các chứng chỉ tiền gửi lại là công cụ của thị trường tiền tệ. Lãi suất của trái phiếu cũng thường cao hơn lãi suất của các chứng chỉ tiền gửi. Cú một số loại trỏi phiếu được phép chuyển đổi thành cổ phiếu.
Huy động vốn từ chủ sở hữu. Trên phương tiện tạo nguồn thì việc phát hành các hợp đồng để thu hút vốn từ chủ sở hữu cũng là một cách thông thường trong kinh doanh. Điểm đặc trưng ở đây là chủ sở hữu của những hợp đồng này sẽ đóng vai trò chủ sở hữu ngân hàng. Ngân hàng được phép sử dụng tối đa vào việc bù đắp các khoản lỗ phát sinh trong quá trình hoạt động.
Ngân hàng chỉ phải thanh toán cho hợp đồng sau khi đã hoàn trả đủ cho người gửi tiền và các chủ nợ khác trong trường hợp Ngân hàng bị thanh lý phá sản. đối với Ngân hàng đây là loại nguồn vốn tồn tại thường xuyên, ổn định nhất song cũng là loại nguồn vốn có chi phí đắt nhất nên quy mô của chúng thường rất nhỏ so với các nguồn vốn kể trên. Mặc dù vậy, vì 14 sự tồn tại của loại nguồn vốn này là điều kiện duy trì hoạt động của Ngân hàng nên các Ngân hàng không những phải luôn duy trì, bảo toàn mà còn thường xuyên bổ sung, trước hết bằng con đường trích lập quỹ dự trữ vốn từ lợi nhuận hàng năm. Dịch vụ tín dụng và đầu tư Với vai trò là trung gian tài chính, phần lớn thu nhập của các Ngân hàng có được từ các hoạt động sử dụng vốn dưới các hình thức cho vay và đầu tư chứng khoán.
Song các rủi ro cơ bản mà các Ngân hàng đối mặt cũng xuất phát chính từ các hoạt động này. Vì vậy với quan điểm thận trọng, thông thường các Ngân hàng sẽ cung cấp các dịnh vụ gắn với phân bổ quỹ vốn theo cơ cấu ưu tiên với trật tự như sau: Thứ nhất: Ngân hàng phải sử dụng một phần quỹ tài sản tiền gửi nhằm đáp ứng được các quy định pháp lý về dự trữ.