CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1. Cơ sở lý luận chung về thị trường 1. Khái niệm thị trường Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về thị trường. Đứng ở mỗi góc độ khác nhau lại có một cách nhìn nhận riêng.
Vì vậy rất nhiều khái niệm thị trường được đưa ra nhưng ở đây ta chỉ đưa ra một số khái niệm cơ bản: Theo C.Mác, hàng hoá sản xuất ra không phải để cho người sản xuất tiêu dùng mà sản xuất ra để bán. Vì vậy cần phải hiểu rằng thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua bán bằng tiền tệ. Theo David Beg, thị trường là tập hợp các sự thoả thuận, thông qua đó người bán và người mua tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá và dịch vụ. Thị trường là nơi gặp nhau giữa cung và cầu, có sự thoả thuận, đấu tranh, thống nhất và gặp nhau.
Số lượng người mua- bán nhiều hay ít phản ánh quy mô của thị trường lớn hay nhỏ. Qua đó cũng cho ta thấy thị trường là sự kết hợp giữa sản xuất và tiêu dùng. Theo quan niệm của Hội quản trị Hoa Kỳ, thị trường là tổng hợp các lực lượng và các điều kiện, trong đó người mua và người bán thực hiện các quyết định chuyển hàng hoá và dịch vụ từ người bán sang người mua. Thị trường ra đời và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá.
Hàng hoá là sản phẩm được sản xuất ra không phải với mục đích để tiêu dùng cho chính người sản xuất ra nó mà để bán. Theo nghĩa hẹp, thị trường là nơi mua, bán trao đổi hàng hoá. Trên cơ sở khái niệm chung về thị trường, thị trường dịch vụ viễn thông có thể được hiểu là một hệ thống bao gồm khách hàng sử dụng dịch vụ viễn thông và các nhà cung cấp thông tin dịch vụ viễn thông nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi thông tin ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng và nội dung thông tin được cung cấp trên mạng thông tin vô tuyến, hữu tuyến. Các chức năng của thị trường 1.
Chức năng thừa nhận Hàng hoá của doanh nghiệp có bán được hay không phải thông qua chức năng thừa nhận của thị trường. Hàng hoá và dịch vụ bán được tức là nó đó được thị trường thừa nhận, được người mua bỏ phiếu chấp nhận hàng ngày, hàng giờ. Một khi hàng hoá được thừa nhận thì quá trình tái sản xuất hàng hoá kết thúc và có thể bắt đầu một chu kỳ sản xuất mới. Hàng hoá được thừa nhận có nghĩa là thị trường thừa nhận chất lượng, số lượng, giá cả, hình thức.
Chức năng thực hiện Thị trường thực hiện hành vi trao đổi hàng hoá, thực hiện tổng cung và tổng cầu trên thị trường, thực hiện cân bằng cung cầu từng loại hàng hoá, thực hiện giá trị thông qua giá cả, thực hiện việc trao đổi giá trị .v… Thông qua chức năng thực hiện của thị trường, các hàng hoá hình thành nên các giá trị trao đổi của mình. Giá trị trao đổi là cơ sở vô cùng quan trọng để hình thành nên cơ cấu sản phẩm, các quan hệ tỷ lệ về kinh tế trên thị trường. Chức năng điều tiết, kích thích Thị trường là mục tiêu của sản xuất hàng hoá. Mặt khác, các quy luật kinh tế của thị trường lại tạo ra động lực để thực hiện các mục tiêu đó.
Đây chính là cơ sở để thị trường thực hiện chức năng điều tiết, kích thích. Sau đây là biểu hiện của chức năng này: Thông qua thị trường mà doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực đầu tư sao cho có lợi nhất, và lợi nhuận là động lực của thị trường. Thị trường tạo ra động lực cạnh tranh, thúc đẩy doanh nghiệp giảm chi phí cá biệt, nâng cao chất lượng để có thể đứng vững trên thị trường và phát triển. Thị trường hướng dẫn người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và túi tiền của mình.
Nhà Nước điều tiết thị trường, còn thị trường điều tiết các doanh nghiệp. Chức năng thông tin 6 Trong tất cả các khâu của quá trình tái sản xuất hàng hoá, chỉ có thị trường mới có chức năng thông tin. Có nhiều loại thông tin, nhưng quan trọng nhất là các thông tin kinh tế. Đó là những thông tin về cung, cầu, quan hệ cung-cầu, về chất lượng, số lượng hàng hoá, về giá cả, cạnh tranh, về xu thế biến động của thị trường.
Những thông tin kinh tế quan trọng đối với mọi nhà sản xuất, kinh doanh, cả người mua và người bán, cả người cung ứng và người tiêu dùng, cả người quản lý và những người nghiên cứu sáng tạo. Có thể nói đó là những thông tin được sự quan tâm của toàn xã hội. Các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau trên thị trường có thể giúp cho các nhà kinh doanh nắm được số cung, số cầu, cơ cấu cung cầu, quan hệ cung cầu, giá cả, các nhân tố kinh tế, chính trị, văn hoá. ảnh hưởng tới quan hệ trao đổi hàng hoá trên thị trường.
Từ đó các nhà kinh doanh có thể đề ra chính sách, chiến lược phù hợp cho doanh nghiệp mình nhằm mở rộng thị trường như chính sách sản phẩm, công nghệ chiến lược quảng cáo, nghiên cứu thị trường. Các yếu tố cấu thành thị trường Cầu: Là nhu cầu có khả năng thanh toán, cầu dùng để mô tả hành vi mua và người mua tiềm tàng đối với mặt hàng nào đó. Do vậy, nhu cầu có thể là ước muốn của người tiêu dùng nói chung, là nhu cầu tự nhiên và là nhu cầu có khả năng thanh toán. ở đây, chúng ta cần tìm hiểu số lượng của nhu cầu.
Đó là lượng người mua ứng với một mức giá nhất định; nó phụ thuộc vào giá cả hàng hóa, thu nhập, sở thích của người mua. Cung: Đây là khái niệm tổng hợp mô tả hành vi người bán một loại hàng hóa mà người bán sẵn sàng bán ở một mức giá nhất định. Cũng phụ thuộc vào giá cả của bản thân hàng hóa đó, giá cả đầu vào, các quy định của Nhà Nước. Giá bán của một loại hàng hóa càng cao thì lượng cung của hàng hóa đó sẽ lớn vì giá bán cao hứa hẹn nhiều lợi nhuận.
Ngược lại khi giá hạ người sản xuất sẽ sản xuất cầm chừng, giảm bớt số lượng, thậm chí có thể chuyển sang sản xuất loại hàng hóa khác. Giá cả: Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị xã hội hay giá cả thị trường. Nó là khâu cuối cùng, quyết định trong hành vi mua hay không mua, bán hay không 7 bán của người mua và nhà sản xuất. Giá cả và thị trường có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ, tác động qua lại với nhau.
Thị trường chi phối đến sự cấu tạo và mức độ hình thành giá cả còn giá cả tùy lúc, tùy nơi gây biến động gắt gao về hình thức lẫn cường độ đối với thị trường. Thông qua giá cả doanh nghiệp có thể nắm bắt sự tồn tại, sức chịu đựng cũng như khả năng thanh toán trong mối quan hệ mua bán. Họ vừa có mối quan hệ hợp tác, vừa có mối quan hệ đấu tranh với nhau về giá cuối cùng đi đến chấp nhận hình thành nên một mức giá nào đó gọi là giá thị trường. Cạnh tranh: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các cá nhân, tổ chức, đơn vị trong các hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận.
Đây là cuộc chạy đua không ngừng và không có đích đến cuối cùng. Có thể nói cạnh tranh là động lực thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng hoàn thiện và phấn đấu để có thể tồn tại và phát triển. Phân loại thị trường Hiện nay trong kinh doanh, người ta dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại thị trường. Mỗi cách phân loại có một ý nghĩa quan trọng riêng đối với quá trình kinh doanh.
Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu: 1. Phân loại theo hình thái hiện vật của đối tượng trao đổi gồm thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ Thị trường hàng hoá: đối tượng trao đổi là hàng hoá, vật phẩm tiêu dùng với mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất. Thị trường hàng hoá gồm nhiều thị trường bộ phận khác nhau: - Thị trường các yếu tố sản xuất: là thị trường diễn ra hoạt động trao đổi hàng hoá để thoả mãn các yêu cầu sản xuất của xã hội. Hàng hoá ở đây chủ yếu là các nguyên vật liệu và các sản phẩm kỹ thuật khác (máy móc, thiết bị, công cụ.) - Thị trường hàng tiêu dùng: là thị trường trao đổi hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Thị trường dịch vụ: là thị trường trao đổi các hàng hoá đặc biệt không tồn tại dưới hình thái cụ thể (Ví dụ: dịch vụ khách sạn, dịch vụ bảo hiểm…) 2. Phân loại theo quan hệ mua bán giữa các nước 8 Thị trường thế giới: là nơi diễn ra các hoạt động mua bán hàng hoá giữa các quốc gia với nhau. Các quan hệ kinh tế diễn ra trên thị trường thế giới ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế của mỗi nước. Thị trường dân tộc (thị trường trong một nước): là hoạt động mua bán của những người trong cùng một quốc gia và các quan hệ kinh tế diễn ra trong mua bán chỉ ảnh hưởng tới các vấn đề kinh tế chính trị trong phạm vi của nước đó.
Phân loại theo số người tham gia vào thị trường và vị trí của người bán, người mua trên thị trường Thị trường độc quyền: là thị trường mà bên tham gia chỉ có một người duy nhất. Bên bán có một người gọi là thị trường độc quyền bán Thị trường cạnh tranh: là thị trường ở đó có nhiều người bán và người mua tham gia, thế lực của họ ngang nhau. Ngoài các cách phân loại trên, còn rất nhiều cách phân loại khác về thị trường. Tuỳ theo góc độ nghiên cứu mà nhà kinh doanh có thể lựa chọn các tiêu thức phân loại khác nhau.
Đặc điểm thị trường dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm dịch vụ thông tin viễn thông Dịch vụ thông tin di động là dịch vụ thông tin vô tuyến và hữu tuyến 2 chiều cho phép thuê bao đăng ký sử dụng dịch vụ có thể sử dụng nhiều loại hình dịch vụ (thoại và phi thoại) trong phạm vi vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ. Dịch vụ thông tin viễn thông đòi hỏi độ an toàn, tính bảo mật và đặc biệt là đòi hỏi chất lượng cao. Phân loại Dịch vụ viễn thông được chia làm 2 loại: dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng.