CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.
Có nhiều hình thức phân loại doanh nghiệp, tuy nhiên khi nói đến DNNVV là nói đến cách phân loại doanh nghiệp dựa trên quy mô của chúng. Thực tế trên thế giới, các nước có quan niệm rất khác nhau về DNNVV. Điểm khác biệt căn bản trong khái niệm về DNNVV giữa các quốc gia chính là ở sự lựa chọn các tiêu chí đánh giá quy mô doanh nghiệp và lượng hóa tiêu chí ấy thông qua các tiêu chuẩn cụ thể. Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia sử dụng 2 tiêu thức là quy mô vốn và số lượng lao động.1: Tiêu chí phân loại DNNVV của Ngân hàng Thế giới Doanh thu Qui mô công ty Nhân viên Tài sản hàng năm Siêu nhỏ <10 <$100,000 <$100,000 Nhỏ <50 <$ 3 triệu <$ 3 triệu Vừa <300 <$15 triệu <$15 triệu Quy mô vay trung bình Siêu nhỏ <$10,000 Nhỏ <$100,000 Vừa <$1 triệu (<$2 triệu đối với một số quốc gia tiên tiến) Nguồn : Tổng hợp từ Ngân hàng Thế giới Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính phủ : Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, DNNVV được phân chia dựa theo các tiêu chí: 5 quy mô về nguồn vốn, quy mô về số lao động và khu vực kinh tế, trong đó quy mô về nguồn vốn được chú trọng.
Cụ thể, Điều 3 của Nghị định quy định như sau: DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.2 : Tiêu chí phân loại DNNVV của Việt Nam Quy mô Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động động nguồn vốn động vốn I. Nông, lâm 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và thủy trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến sản 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và xây trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến dựng 200 người 100 tỷ đồng 300 người III. Thương 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 mại và dịch vụ trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến 50 người tỷ đồng 100 người Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ 1.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa a. Về tính chất hoạt động kinh doanh Doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế: thương mại, dịch vụ, xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp. và hoạt động dưới mọi hình thức như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các cơ sở kinh tế cá thể. Về tính chất năng động 6 Doanh nghiệp nhỏ và vừa có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường do các DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh.
Mặt khác, do DNNVV tồn tại dưới nhiều hình thức, sản phẩm đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên dễ dàng thích ứng vói nhu cầu của thị trường hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Năng lực kinh doanh còn hạn chế Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn đầu tư ban đầu ít, hoạt động vốn nhỏ, thêm vào đó khả năng tiếp cận các nguồn tài chính khác thấp nên các DNNVV thường gặp khó khăn trong việc mở rộng quy mộ hoạt động, triển khai các dự án lớn và đầu tư sản xuất mới. Bên cạnh đó, do quy mô vốn nhỏ nên các DNNVV không có điều kiện đầu tư nhiều vào việc nâng cấp đối với máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại, tiên tiến. DNNVV cũng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do hạn chế về thông tin thị trường.
Trình độ lao động và năng lực quản lý còn thấp Các DNNVV khó có thể tuyển dụng được lao động có trình độ và tay nghề giỏi, lực lượng lao động chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo tay nghề và thiếu kỹ năng, đồng thời cũng ít được chủ doanh nghiệp quan tâm đào tạo và đào tạo lại nhằm nâng cao tay nghề. Bên cạnh đó, kỹ năng quản lý của nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng hạn chế, số lượng giám đốc, chủ doanh nghiệp giỏi, trình độ chuyên môn cao và có năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế Việt Nam Thứ nhất, các DNNVV có vị trí rất quan trọng ở chỗ, chúng chiếm đa số về mặt số lượng trong tổng số các cơ sở sản xuất kinh doanh và ngày càng gia tăng mạnh. Các DNNVV chiếm khoảng trên dưới 90 % tổng số các doanh nghiệp.
Tốc độ gia tăng các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhanh hơn các doanh nghiệp lớn. Thứ hai, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của nền kinh tế. Chúng đóng góp phần quan trọng vào sự gia tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP ở mỗi nước. Theo đánh giá của Viện Nghiên cứu quản lý Trung ương, thì hiện nay ở Việt 7 Nam doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 24% GDP.
Thứ ba, tác động lớn nhất của doanh nghiệp nhỏ và vừa là giải quyết một số lượng lớn việc làm cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo. Xét theo luận điểm tạo công ăn việc làm cho người lao động, thì khu vực này vượt trội hẳn so với khu vực khác, góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội bức xúc, ở hầu hết các nước doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo việc làm cho khoảng từ 50- 80% lao động trong các nghành công nghiệp và dịch vụ. Đặc biệt trong nhiều thời kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa lại thu hút thêm nhiều lao động hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn khu vực doanh nghiệp lớn. Thứ tư, các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường, do lợi thế quy mô nhỏ và vừa là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, cùng với hình thức tổ chức kinh doanh có sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, hoà nhịp được với những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường.
Thứ năm, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa thu hút được khá nhiều vốn ở trong dân. Do tính chất nhỏ lẻ, dễ phân tán đi sâu vào dân cư và yêu cầu về số lượng vốn ban đầu không nhiều, cho nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa có tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn nhỏ lẻ, nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chúng tạo lập dần tập quán đầu tư vào sản xuất kinh doanh và hình thành các khu vực để thực hiện có kết quả vấn đề huy động vốn của dân cư theo luật khuyến khích đầu tư trong nước. Thứ sáu, các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt đối với khu vực nông thôn đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho công nghiệp phát triển mạnh, đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại- dịch vụ phát triển. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn góp phần đa dạng hoá cơ cấu công nghiệp.
Thứ bảy, các doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần vào đô thị hoá phi tập trung và thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”. Sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn sẽ thu hút những người lao động thiếu 8 hoặc chưa có việc làm và có thể thu hút lượng lớn lao động thời vụ trong các kỳ nông nhàn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, rút dần lao động làm nông nghiệp sang làm công nghiệp hoặc dịch vụ. Đồng hành với nó là hình thành những khu vực khá tập trung các cơ sở công nghiêp và dịch vụ ngay tại nông thôn, tiến dần lên hình thành các đô thị nhỏ đan xen giữa những làng quê, đây chính là quá trình đô thị hoá phi tập trung. Thứ tám, các doanh nghiệp nhỏ và vừa là nơi ươm mầm các tài năng kinh doanh, là nơi đào tạo các nhà doanh nghiệp.
Bắt đầu từ kinh doanh quy mô nhỏ và thông qua điều hành quản lý kinh doanh quy mô nhỏ và vừa, một số nhà doanh nghiệp sẽ trưởng thành nên những nhà doanh nghiệp lớn tài ba, biết đưa doanh nghiệp của mình nhanh chóng phát triển. Dự án đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm dự án đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại: “Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động đặc thù nhằm tạo nên một thực tế mới có phương pháp trên cơ sở các nguồn lực nhất định”. Có nhiều quan điểm khác nhau về dự án, nhưng theo quan điểm của ngân hàng và doanh nghiệp, dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.
Về mặt hình thức: DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch trong một thời gian nhất định để đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai.