phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng. Chƣơng 1: Khái quát về quản lý nhà nƣớc đối với các thiết chế văn hóa cơ sở và tổng quan về thành phố Sầm Sơn Chƣơng 2: Công tác quản lý nhà nƣớc đối với các thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng quản lý nhà nƣớc đối với các thiết chế văn hóa cơ sở trên địa bàn thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC THIẾT CHẾ VĂN HÓA CƠ SỞ VÀ TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ SẦM SƠN 1. Khái quát về quản lý nhà nƣớc đối với các thiết chế văn hóa cơ sở 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thiết chế Theo Từ điển Tiếng Việt, thiết chế là quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi ngƣời phải tuân theo, “Thiết chế là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng” [30]. Theo tác giả Nguyễn Hữu Thức (2015), Thiết chế là một tổ chức do con ngƣời lập ra có mối ràng buộc chặt chẽ ở bên trong giữa con ngƣời với công việc thông qua các quy tắc, quy định và điều kiện để thực hiện công việc theo ý muốn chủ quan của con ngƣời. Trong cuộc sống có các thiết chế: Thiết chế kinh tế, thiết chế văn hóa, thiết chế xã hội.
Thiết chế xã hội bao gồm: gia đình, xóm làng, trƣờng học, y tế… Thiết chế xã hội ra đời đáp ứng nhu cầu sinh tồn; đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn; hƣớng tới các chuẩn mực giá trị tinh thần [42]. Có thể hiểu thiết chế là toàn bộ các quy định chi phối một tổ chức, một đoàn thể; chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động xã hội, nhờ đó mà các quan hệ xã hội kết hợp lại với nhau, đảm bảo cho các cộng đồng hoạt động nhịp nhàng. Về mặt tổ chức, thiết chế đƣợc hiểu là “hệ thống tổ chức bộ máy” đƣợc thiết lập trên cơ sở thể chế quy định của Hiến pháp, pháp luật để thực hiện một hoạt động nào đó của xã hội, là hệ thống các cơ quan quyền lực, các đại diện cho cộng đồng, đảm bảo những hoạt động đáp ứng những nhu cầu khác nhau của cộng đồng. 10 Bên cạnh đó, hệ thống tổ chức, còn có hệ thống giám sát không theo hình thức có tổ chức, đó là phong tục, tập quán, dƣ luận, luôn luôn đánh giá và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong cộng đồng.
Khái niệm thiết chế văn hóa Thiết chế văn hóa (Cultural institutions) hay còn gọi là tổ chức văn hóa là một tổ chức trong nền văn hóa/tiểu văn hóa hoạt động để bảo tồn hoặc phát huy văn hóa. Là thuật ngữ dùng để chỉ các cơ quan, đơn vị hoạt động văn hóa do nhà nƣớc hoặc cộng đồng xã hội lập ra trong khuôn khổ pháp luật hoặc quy chế của ngành, đoàn thể nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của công chúng, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở địa phƣơng. Theo Từ điển Tiếng Việt, “Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí; chỉ riêng ngôi nhà hoặc công trình văn hóa chƣa đủ để gọi là thiết chế văn hóa” [30]. Trần Ngọc Khánh (2005) đƣa ra định nghĩa ngắn gọn hơn: “Thiết chế văn hóa là các mô hình, phƣơng tiện đƣợc trang bị, cách thức tổ chức và vận hành nhằm thiết lập mối tƣơng quan giữa sản xuất văn hóa và tiêu dùng văn hóa trong đời sống xã hội” [29].
Nhƣ vậy, thiết chế văn hóa không chỉ đơn thuần là những công trình vật chất cụ thể mà bao hàm trong đó là hệ thống cơ chế, chính sách vận hành; đội ngũ nhân lực làm công tác quản lý, tổ chức; nguồn lực tài chính và các chủ thể hoạt động. Thế chế văn hóa thiên về những thực hành, sáng tạo và trao truyền văn hóa giữa các thế hệ, giai tầng trong cộng đồng dân cƣ. Không có thiết chế văn hóa thì việc sáng tạo, quảng bá hình ảnh, trình diễn và hƣởng thụ các giá trị văn hóa trở nên đơn điệu, nhàm chán. Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Thiết chế văn hóa là một chỉnh thể hội tụ đầy đủ 4 yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, quy chế hoạt động, 11 nguồn kinh phí.
Xây dựng nội dung, tổ chức hoạt động, phương thức quản lý hoạt động để các thiết chế văn hóa có thể phát huy tốt vai trò, ý nghĩa, làm phong phú, giữ gìn tốt hơn những giá trị văn hóa cộng đồng, bản địa. Khái niệm Thiết chế văn hóa cơ sở Theo từ điển Tiếng Việt, “Cơ sở có nghĩa là nền tảng cho những cái đƣợc xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát triển” hay “ cơ sở là đơn vị cấp dƣới cùng, là nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động” [30]. Từ khái niệm thiết chế văn hóa và khái niệm cơ sở có thể hiểu: Thiết chế văn hóa cơ sở chỉ các cơ quan, đơn vị cấp xã, phường hoạt động văn hóa do nhà nước hoặc cộng đồng xã hội lập ra trong khuôn khổ pháp luật hoặc quy chế của cơ quan, đơn vị nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương, góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở cơ quan, đơn vị cấp cơ sở. Thiết chế văn hóa cơ sở là một trong những yếu tố góp phần quan trọng trong công tác xây dựng đời sống văn hóa địa phƣơng và từ lâu đã trở thành một nhiệm vụ chiến lƣợc, một chủ trƣơng lớn của Đảng, nhà nƣớc, đƣợc xây dựng thành những chƣơng trình phát triển thể chế văn hóa cơ sở cho cộng đồng dân cƣ ở cấp địa phƣơng trong cả nƣớc thời gian qua.
Quản lý, quản lý nhà nước về thiết chế văn hóa cơ sở * Quản lý Quản lý là thuật ngữ khá phổ biến, xuất hiện từ rất sớm trong ngôn ngữ học. Từ trƣớc đến nay có rất nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Có quan niệm cho rằng quản lý có nghĩa là tác động có chủ đích, là điều hạnh, điều khiển, chỉ huy; lại có quan điểm cho rằng quản lý là cai trị, thống trị, lãnh đạo. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định.
Quan niệm chung nhất về quản lý đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận do ngành điều khiển học đƣa ra nhƣ sau: Quản lý là sự tác động có định hƣớng 12 lên bất kỳ một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hƣớng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định. Theo Hán Việt từ điển cho rằng: Quản lý là sự trông nom, coi sóc, quản thúc, bó buộc ai đó theo một khuôn mẫu, quy định, nguyên tác, pháp luật đề ra [1]. Quản lý theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Khái niệm này tƣơng đồng với các khái niệm chỉ đạo, điều hành, điều khiển.
Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con ngƣời, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nƣớc [30]. Trong cuốn giáo trình: Những vấn đề cơ bản của quản lý hành chính nhà nƣớc của Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Nxb Lý luận chính trị năm 2020 thì “Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định” để đạt tới những mục tiêu nhất định” [26]. Trong cuốn giáo trình: Khoa học quản lý của tác giả Phan Huy Cƣơng: “Quản lý đƣợc hiểu là sự tác động có hƣớng đích của chủ thể quản lý đến hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” [22]. Có thể xem quản lý là hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu đƣợc trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển.
Nhƣ vậy trong hoạt động quản lý phải có chủ thể quản lý, khách thể quản lý nhằm hƣớng tới mục tiêu đã đề ra. Từ những phân tích trên, luận văn sử dụng khái niệm sau: Quản lý là quá trình mà chủ thể quản lý sử dụng các công cụ quản lý và phƣơng pháp quản lý thích hợp nhằm điều khiển đối tƣợng quản lý hoạt động và phát triển nhằm đạt đến những mục tiêu đã định. 13 * Quản lý nhà nước QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, một phƣơng thức hoạt động cơ bản của các nhà nƣớc dù là theo chính thể, chế độ nào đi nữa. Theo nghĩa chung nhất, QLNN vừa là chức năng, vừa là nhiệm vụ và quyền hạn của nhà nƣớc, nó đƣợc hiểu là việc Nhà nƣớc sử dụng quyền lực chung đã đƣợc thể chế hóa tác động thƣờng xuyên và liên tục đến các quá trình, lĩnh vực hay quan hệ xã hội nhằm đạt đƣợc mục đích quản lý.
Hoạt động QLNN đã gắn liền với quá trình ra đời, tồn tại, phát triển và diệt vong của nhà nƣớc. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nƣớc, bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất quản lý đơn phƣơng đối với xã hội. Chúng ta có thể định nghĩa QLNN theo hai bình diện: Theo nghĩa rộng: “QLNN là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nƣớc trên các phƣơng diện: lập pháp, hành pháp và tƣ pháp”. Theo nghĩa hẹp: “QLNN đƣợc hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nƣớc, đó là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc đối với các quá trình xã hội và hành vi của con ngƣời theo pháp luật nhằm đạt đƣợc những mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ QLNN”.