Chương 1: Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực và chất lượng nguồn nhân lực Chương 2: Phân tích đánh giá hiện trạng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà nội Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà nội Trường Đại học Bách khoa Hà nội 4 CH-QTKD 2012 – 2014 Lê Thị Bích Hạnh Luận văn thạc sỹ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Những vấn đề chung về nguồn nhân lực và chất lƣợng nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm các tiềm năng của con ngƣời trong một tổ chức (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo tổ chức) tức là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức (Nguồn: George Milkovich và John Boudreau, Quản trị nguồn nhân lực, nhà xuất bản thống kê 2007, trang 9). Nguồn nhân lực đƣợc coi nhƣ là sức mạnh tổng hợp từ sức mạnh của các loại lao động cũng nhƣ từ khả năng lao động của từng cá nhân trong tổ chức nhƣ sức khỏe, trình độ, sự hiểu biết, kinh nghiệm, lòng tin, nhân cách.
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện trên hai mặt: Về số lƣợng, đó là tổng số những ngƣời trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nƣớc và thời gian lao động có thể huy động đƣợc từ họ. Về chất lƣợng, đó là sức khỏe và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của ngƣời lao động. Trường Đại học Bách khoa Hà nội 5 CH-QTKD 2012 – 2014 Lê Thị Bích Hạnh Luận văn thạc sỹ Nguồn lao động là tổng số những ngƣời trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Nguồn lao động cũng đƣợc hiểu trên hai mặt: số lƣợng và chất lƣợng. Nhƣ vậy theo khái niệm này, có một số đƣợc tính là nguồn nhân lực nhƣng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những ngƣời không có việc làm nhƣng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những ngƣời không có nhu cầu tìm việc làm, những ngƣời trong độ tuổi lao động quy định nhƣng đang đi học… Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời. Nguồn lực đó đƣợc xem xét ở hai khía cạnh. Trƣớc hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực.
Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con ngƣời, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con ngƣời và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực đƣợc hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con ngƣời. Với tƣ cách là nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định. Khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỉ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con ngƣời, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con ngƣời trong quá trình phát triển.
Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những ngƣời trong độ tuổi lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lƣợng mà còn chứa hàm ý rộng hơn. Trường Đại học Bách khoa Hà nội 6 CH-QTKD 2012 – 2014 Lê Thị Bích Hạnh Luận văn thạc sỹ Từ những quan niệm trên, tiếp cận dƣới góc độ kinh tế chính trị có thể hiểu: nguồn nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lƣợng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử đƣợc vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tƣơng lai của đất nƣớc. Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con ngƣời, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong tiến trình nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực.
Chăm lo đầy đủ đến con ngƣời là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vƣợng của mọi quốc gia. Đầu tƣ cho con ngƣời là đầu tƣ có tính chiến lƣợc, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững của mỗi tổ chức, mỗi địa phƣơng, mỗi quốc gia, khu vực và trên thế giới. Chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Theo TS.
Vũ Thị Mai thì “Chất lƣợng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của ngƣời lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng nhƣ thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngƣời lao động”. Hay chất lƣợng nguồn nhân lực có thể đƣợc hiểu là:“ trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực”. Trường Đại học Bách khoa Hà nội 7 CH-QTKD 2012 – 2014 Lê Thị Bích Hạnh Luận văn thạc sỹ Nếu nói nguồn nhân lực chất lƣợng cao là khái niệm để chỉ một con ngƣời, một ngƣời lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kĩ thuật nhất định (đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kĩ thuật lành nghề. Thì chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia.
Và nguồn nhân lực chất lƣợng cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, là nhóm tinh túy nhất, có chất lƣợng nhất. Bởi vậy khi bàn về nguồn nhân lực chất lƣợng cao không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lƣợng nguồn nhân lực nói chung của một đất nƣớc. Nguồn nhân lực chất lƣợng cao là nguồn nhân lực phải đáp ứng đƣợc yêu cầu của thị trƣờng (yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc), đó là: có kiến thức: về chuyên môn, về kinh tế, về tin học; có kỹ năng: tìm và tự tạo việc làm, làm việc an toàn, làm việc hợp tác, có thái độ và tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với công việc. Nhƣ vậy nguồn nhân lực chất lƣợng cao phải là những con ngƣời phát triển cả về trí lực và thể lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về đạo đức, tình cảm trong sáng.
Nguồn nhân lực chất lƣợng cao có thể không cần đông về số lƣợng nhƣng phải đi vào thực chất. Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức và trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn nhân lực đặc biệt là nguồn nhân lực chất lƣợng cao càng ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết tăng trƣởng gần đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trƣởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở hiện đại và nâng cao chất lƣợng NNL. Trong Trường Đại học Bách khoa Hà nội 8 CH-QTKD 2012 – 2014 Lê Thị Bích Hạnh Luận văn thạc sỹ đó động lực quan trọng nhất của sự tăng trƣởng kinh tế bền vững chính là những con ngƣời, đặc biệt là NNL CLC, tức là những con ngƣời đƣợc đầu tƣ để phát triển, có kỹ năng, có kiến thức, có tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn- vốn con ngƣời, vốn nhân lực”.
Bởi trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNL CLC, có môi trƣờng pháp lý thuận lợi cho đầu tƣ, có môi trƣờng chính trị- xã hội ổn định. Việt Nam đang chủ động hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa, chúng ta tham gia vào tổ chức Thƣơng mại thế giới WTO, chắc chắn trong thời gian không lâu, Việt Nam không chỉ là sân chơi riêng của các cơ sở đào tạo nói chung và các trƣờng đại học, cao đẳng ở Việt Nam nói riêng, sẽ có nhiều trƣờng đại học, cao đẳng nƣớc ngoài tham gia đăng kí hoạt động ở nƣớc ta. Chúng ta muốn đi lên, muốn hội nhập thì các trƣờng đại học, cao đẳng, các cơ sở giáo dục phải nâng cao năng lực quản lý, nâng cao chất lƣợng đào tạo, nâng cao chất lƣợng sản phẩm đầu ra – đào tạo nguồn nhân lực ngang bằng với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới. Để làm đƣợc điều này thì việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng.
Hiện nay trên báo chí, trên mạng Internet khắp nơi xuất hiện hai từ “chất lƣợng” khi đề cập đến đề tài chất lƣợng NNL thì ngƣời ta sẽ liên tƣởng ngay đến chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng sản phẩm đào tạo giáo dục, chất lƣợng giảng dạy, chất lƣợng đội ngũ giảng viên,… nhƣng các thuật ngữ trên đều chƣa có khái niệm thống nhất. Có vô số cách trả lời khác nhau. Ngƣời Tây Âu sẽ trả lời khác một ngƣời Á Đông, một chính trị gia sẽ trả lời khác một thầy tu, một giáo sƣ đại học sẽ trả lời khác với một nhà tuyển dụng lao động. Trường Đại học Bách khoa Hà nội 9 CH-QTKD 2012 – 2014 Lê Thị Bích Hạnh Luận văn thạc sỹ Có sự khác nhau nhƣ vậy bởi lẽ tùy thuộc vào cách nhìn, vào trình độ văn hóa, vào lăng kính và vào cả những lợi ích cá nhân hoặc nhóm ngƣời trả lời trực thuộc.
Lăng kính đó đôi khi mang lại cả những nét văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị,… của môi trƣờng xung quanh mà cá nhân sống. Mỗi cá nhân, mỗi nhóm xã hội có những chuẩn mực, có những đòi hỏi, cũng nhƣ có cách hiểu khác nhau. Dựa vào định nghĩa chất lƣợng ISO 9000:2000 có thể xem Chất lƣợng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng khả năng làm việc của ngƣời lao động với yêu cầu công việc của tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng nhƣ thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngƣời lao động.