CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Tổng quan về chất lượng nguồn nhân lực 1. Khái niệm về Nguồn nhân lực Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực: - George T.Boudreau (1996) cho rằng Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân đảm bảo nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức. - Nicholas Henry (2012) cho rằng Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. - Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực hiện có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.
- Hay một quan điểm khác về nguồn nhân lực, Armstrong, Michael, London (2006) cho rằng Nguồn nhân lực tạo nên nét đặc trưng riêng cho mỗi tổ chức, bao gồm các yếu tố: trí tuệ, kỹ năng và chuyên môn. Từ những quan điểm trên, có thể hiểu Nguồn nhân lực là tổng hòa các yếu tố về thể lực, trí lực và ý thức của mỗi cá nhân, được huy động vào quá trình lao động nhằm đảm bảo sự phát triển của mỗi tổ chức mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Khái niệm về chất lượng Nguồn nhân lực 10 Cũng như Nguồn nhân lực, hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm “Chất lượng nguồn nhân lực”, tiêu biểu như: - Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: Trình độ chuyên môn, trình độ văn hóa, trình độ sức khỏe và năng lực phẩm chất của người lao động (Mai Quốc Chánh, 1999).TS Bùi Văn Nhơn (2010) cho rằng chất lượng nguồn nhân lực gồm trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội. Trong đó: Thể lực của nguồn nhân lực gồm sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần; Trí lực của nguồn nhân lực gồm trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động; Phẩm chất tâm lý xã hội gồm kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiêp, có tinh thần trách nhiệm cao.
- Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp về những người thuộc nguồn nhân lực được thể hiện ở các mặt sau: sức khỏe; trình độ văn hóa; trình độ chuyên môn – kỹ thuật; năng lực thực tế về tri thức, kỹ năng nghề nghiệp; tính năng động xã hội; phẩm chất đạo đức, tác phong, thái đội đối với công việc và môi trường làm việc …(PGS.TS Nguyễn Tiệp, 2008). Tóm lại, chất lượng nguồn nhân lực có thể hiểu là mức độ đáp ứng của trí lực, thể lực và tâm lực của mỗi cá nhân người lao động so với yêu cầu cụ thể của từng tổ chức. Ba yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau cấu thành chất lượng nguồn nhân lực. Khái niệm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính là nâng cao mức độ đáp ứng công việc của người lao động trên các phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực so với yêu cầu cụ thể nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức (Bùi Thanh Huyền, 2019).
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là sự tăng cường sức mạnh, kĩ năng hoạt động sáng tạo của năng lực thể chất, năng lực tinh thần của lực lượng lao động 11 lên trình độ nhất định để lực lượng này có thể hoàn thành được nhiệm vụ đặt ra trong những giai đoạn phát triển của một quốc gia hay của một tổ chức (TS. Nguyễn Thanh Lâm, Cao Nguyễn Quốc Nhã, 2020). Tóm lại, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là thuật ngữ có hàm ý chỉ việc xây dựng và thực hiện một số các hoạt động nhằm mục đích dẫn đến sự tăng lên về chất lượng nguồn nhân lực so với chất lượng nguồn nhân lực hiện có của tổ chức. Đó là những biểu hiện tăng lên về thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi cá nhân trong tổ chức.
Các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của một tổ chức 1. Trí lực Trí lực là năng lực trí tuệ của con người, là sự kết hợp giữa tri thức và trí tuệ của người lao động. Trí lực thể hiện ở trình độ học vấn, kiến thức, kỹ năng, sự tư duy sáng tạo, kinh nghiệm nghề nghiệp của người lao động so với yêu cầu của công việc mà người đó đảm nhận. Tri thức là yếu tố cơ bản của trí lực, là sự tổng hợp khái quát kinh nghiệm cuộc sống, là nhận thức lý tính.
Nắm bắt được nó sẽ có lợi trong việc chỉ đạo thực tiễn, có lợi trong việc nâng cao khả năng phân tích và lý giải vấn đề. Trí lực chính là sự kết tinh của tri thức, tùy thuộc vào tri thức của mỗi cá nhân mà có sự khác nhau về khả năng tiếp thu, chọn lọc, cải tạo và chế tác tri thức để vận dụng vào công việc, cuộc sống một cách khác nhau.Trí lực của người lao động thể hiện ở các mặt sau: 1. Về trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ Theo Tổ chức Văn hoá, Khoa ho ̣c và Giáo dục của Liên hơ ̣p quố c (UNESCO), trình độ ho ̣c vấn đã đạt đươ ̣c của mô ̣t người đươ ̣c đinh ̣ nghiã là lớp ho ̣c cao nhất đã hoàn tất trong hê ̣ thố ng giáo dục quố c dân mà người đó đã theo ho ̣c. 12 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện yêu cầu công việc của vị trí đang đảm nhận.
Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của người lao động trong tổ chức là một chỉ tiêu rất quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, bởi lẽ trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ cao tạo ra những điều kiện và khả năng để tiếp thu, vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn, khả năng thích ứng với sự thay đổi, góp phần thúc đẩy sự phát triển của tổ chức đó nói riêng và nền kinh tế - xã hội nói chung. Thực tế cho thấy, ở phần lớn các tổ chức mà người lao động có trình độ học vấn và chuyên môn cao thì tổ chức đó phát triển nhanh. Tuy nhiên, cũng có những tổ chức mặc dù người lao động có trình độ chuyên môn cao, nhưng chưa tận dụng hết được tiềm năng này, nên tốc độ phát triển cũng như năng suất lao động chưa cao, đó là do cơ chế quản lý, khai thác và sử dụng nguồn nhân lực chưa được tốt. Kỹ năng mềm Kỹ năng mềm là thuật ngữ dùng để chỉ các kỹ năng như: kỹ năng tin học, ngoại ngữ, kỹ năng sống, giao tiếp, lãnh đạo, làm việc nhóm, kỹ năng quản lý thời gian,.
kỹ năng là một khả năng có được không chỉ thông qua quá trình học tập, rèn luyện, mà còn có thể có được thông qua sự trải nghiệm, hay từ khả năng vốn có của mỗi con người. Nó bổ trợ và làm hoàn thiện hơn năng lực làm việc của người lao động, chúng quyết định bạn là ai, làm việc thế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc. Thể lực Định nghĩa sức khỏe của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1948 đã nêu: “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không phải là không có bệnh hoặc thương tật.” Theo đó, có thể hiểu “Thể lực” là tình trạng sức khỏe của người lao động, là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất lẫn tinh thần (sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần), trong đó năng lực thể chất chiếm vị trí 13 vô cùng quan trọng. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc.
Thể lực được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu cơ bản như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình trạng sức khỏe. Tâm lực Chất lượng nguồn nhân lực còn được thể hiện qua những yếu tố về tâm lực như: ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác trong lao động, ý thức tiết kiệm, tinh thần trách nhiệm, tinh thần hợp tác cũng như tác phong làm việc,. Đây đều là những yếu tố vô hình không thể định lượng nhưng lại là những yếu tố rất quan trọng trong việc đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và quyết định sự phát triển bền vững tổ chức. Khi nhắc đến ý thức của nguồn nhân lực, người ta thường nhấn mạnh đến các phẩm chất văn hóa, đạo đức và truyền thống kinh doanh, tác phong làm việc công nghiệp… như là một nhân tố cấu thành nên đặc thù nguồn nhân lực riêng.
Bên cạnh việc nâng cao thể lực và trí lực nguồn nhân lực thì việc nâng cao tâm lực là một yếu tố quan trọng không thể không nhắc đến. Nội dung các hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 1. Hoạch định nguồn nhân lực Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực từ đó có thể bố trí, sắp xếp nhân sự phù hợp với chuyên môn, trình độ, kỹ năng cũng như khả năng đáp ứng công việc về sức khỏe nhân viên. Hay cũng là quá trình định hướng để có thể xây dựng lộ trình phát triển, các chính sách nhằm bảo đảm cho tổ chức cải thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao.
Hoạch định nguồn nhân lực là cơ sở để sắp xếp, bố trí nhân sự trong cùng cấp, hay thăng tiến của nhân viên trong một tổ chức. Từ đó đề ra những yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ năng, tâm lực và thể lực của người lao động, đây 14 cũng chính là những yếu tố cấu thành chất lượng nguồn nhân lực của một tổ chức. Tuyển dụng, sử dụng và đánh giá người lao động Tuyển dụng lao động là một quá trình xác định nhu cầu, tiêu chí, lên kế hoạch và thực hiện tuyển dụng, tiếp nhận nhân sự.