CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực 1. Nguồn nhân lực Nguồn lực con người thường nhấn mạnh và quyết định đến chất lượng và vai trò trong phát triển nền kinh tế xã hội hiện nay, con người được coi là một phương tiện hữu hiệu nhất cho việc đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững thậm chí được coi là nguồn vốn đặc biệt quan trọng cho sự phát triển nguồn nhân lực. Từ thập niên 80 của thế kỷ XX với sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý hiện đại, lấy con người làm trung tâm thì thuật ngữ “nguồn nhân lực“ bắt đầu được sử dụng rộng rãi, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển.
Do vậy, có nhiều quan điểm khác nhau cơ bản về nguồn nhân lực. Theo Liên hợp quốc “Nguồn nhân lực là kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người hiện nay có quan hệ mật thiết đến sự phát triển và tồn tại của cá nhân và của đất nước”. “Nguồn nhân lực là vốn có của con người gồm cả thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi con người” (theo Ngân hàng thế giới). Như vậy, nguồn lực con người là loại vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên và các loại vốn khác… Tuy nhiên, sự tham gia của nguồn nhân lực trong quá trình sản xuất lại không có sự giống nhau nguồn vốn bằng tiền, vốn công nghệ, vốn tài nguyên.
Nguồn vốn đặc biệt này được đặt gần cạnh các loại vốn kia để khai thác, duy trì, sử dụng và phát huy hiệu quả các nguồn vốn đó. Các tác giả này cho rằng và đúc kết lại kiến thức mà con người tích lũy được trong quá trình lao động và sản xuất là tài sản vô giá giúp họ tạo ra của cải, tài sản phục vụ cho cuộc sống đầy đủ. Về nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất, 8 cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển của xã hội. Do đó, nguồn nhân lực của xã hội là bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường và phát triển trên tầm cao hơn.
Về nghĩa hẹp, nguồn nhân lực của con người là khả năng lao động của toàn xã hội, là sự phát triển về KT-XH, QP-AN… bao gồm toàn bộ các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động, sản xuất xã hội, tổng thể liên quan đến các yếu tố về thể lực, trí lực. Nguồn nhân lực là tổng thể lao động của một quốc gia hay của một địa phương nào đó ( theo Phạm Minh Hạc 2001), Từ các quan niệm trên, nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội, cung cấp nguồn lực cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực trong các cơ quan Nhà nước là bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường hoặc phát triển tốc độ cao. Nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động, sản xuất của toàn xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng – An ninh có cả các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động giỏi, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực và cả về tâm lực.
Nguồn nhân lực trong cơ quan Nhà nước Nguồn nhân lực trong cơ quan nhà nước là hệ thống cán bộ, công chức nhà nước. Có thể hiểu: Nguồn nhân lực trong các cơ quan nhà nước là tổng thể các tiềm năng lao động trí tuệ của con người làm việc trong bộ máy hành chính nhà nước. Tiềm năng lao động của con người là toàn bộ sức lao động gồm có vốn, kiến thức, kỹ năng làm việc, quan hệ công tác, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc điểm tâm lý, các mối quan hệ.của con người trong quá trình làm việc và công tác. Ở nước ta hiện nay, nguồn nhân lực trong cơ quan nhà nước hành chính là toàn bộ tiềm năng lao động của cán bộ, công chức, được Chính phủ sử dụng để thực thi chức năng hành pháp của cơ quan Nhà nước.
Nguồn nhân lực CBCC là thuật ngữ vừa có liên quan đến cá nhân cán bộ, 9 công chức, vừa liên quan đến cơ cấu xét theo các mặt khác nhau của một số lượng khá lớn CBCC. Nếu như mỗi CBCC được đặc trưng bởi những phẩm chất thuộc về cá nhân và kết quả hoạt động của họ phụ thuộc vào trình độ năng lực của cá nhân họ, thì sức mạnh của NNL CBCC không những phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực cá nhân của từng CBCC mà còn phụ thuộc vào mức độ thích hợp về cơ cấu và mối quan hệ phối hợp trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao giữa các cá nhân CBCC. Với cách tiếp cận như thế, có thể định nghĩa NNL CBCC là tập hợp một số lượng lớn nhất định CBCC trong các CQHC nhà nước của một đơn vị nhất định. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong cơ quan Nhà nước Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong cơ quan Nhà nước là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của người lao động nhằm đáp ứng nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một nội dung hết sức quan trọng của phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động của thể lực, trí tuệ, đạo đức lối sống, năng lực công tác, kỹ năng nghề nghiệp, thẩm mỹ, mỹ quan … của người lao động và sự phát triển chất lượng của nguồn nhân lực có tác động qua lại, chi phối bởi các yếu tố bên ngoài như sức khỏe, điều kiện kinh tế của cá nhân, chế độ dinh dưỡng, trình độ giáo dục và đào tạo, giá trị văn hóa truyền thống của một quốc gia và môi trường, điều kiện sống. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cơ bản là tăng giá trị cho con người trên các mặt phẩm chất đạo đức, thể chất, năng lực, thẩm mỹ, thông qua các chính sách phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan Nhà nước nhằm giúp cho con người có nhiều năng lực, phẩm chất mới cao hơn và tầm nhìn xa hơn nữa để có thể hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ mới của tổ chức và của chính bản thân của họ. Nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước là một trong những yếu tố rất quan trọng mang tính quyết định sự thành bại của nền hành chính nhà nước hiện nay. Bởi vậy, nhân lực hành chính công, là đội ngũ cán bộ, công chức là sản phẩm chính và cũng đồng thời là chủ thể của nền hành chính cơ quan Nhà nước hiện nay.
Trong quá trình hoạt động trong lĩnh vực nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có 10 tác động đến mọi mặt đời sống xã hội, tác động đến quyền và lợi ích của mọi người dân, tổ chức và cả cộng đồng xã hội trong nước lẫn ngoài nước. Tất cả các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến nền hành chính nhà nước ( như thể chế, cơ cấu tổ chức, tài chính công và tiến trình quản lý) đều do đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước xây dựng nên và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả. Tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống, cơ chế quản lý và chế độ, chính sách đãi ngộ thích hợp theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Chủ trương, quan điểm của Đảng ta là tách bạch ngành hành chính với đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp.
Cụ thể hóa và triển khai có hiệu quả thông qua quy định, thể chế về công chức hành chính, viên chức sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước. Tiến hành rà soát, đánh giá lại hệ thống các tiêu chuẩn chức danh công chức và chức danh viên chức hiện có để điều chỉnh, ban hành mới một số chức danh, tiêu chuẩn ngạch công chức, ngạch viên chức đảm bảo theo công việc hiện nay. Đến nay, đã xây dựng được các chức danh cán bộ, công chức và chức danh viên chức đã góp phần quan trọng trong quản lý và sử dụng cán bộ công chức và viên chức hiện nay. Trong công tác tuyển dụng đã có sự thay đổi cơ bản đối với công chức hành chính là phải qua thi tuyển bắt buộc, công khai, minh bạch, không hạn chế số lượng và có sự cạnh tranh công bằng, đối với viên chức sự nghiệp thì được áp dụng cả hai hình thức thi tuyển và xét tuyển nhưng cũng đảm bảo công bằng, minh bạch.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cũng được quan tâm, chú trọng có sự đổi mới từ nội dung chương trình đến hình thức, phương pháp và phân cấp quản lý cán bộ tạo điều kiện cho cấp ủy Đảng chủ động và tích cực trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức và viên chức. Trong đó chú trọng việc xây dựng lại cho phù hợp với trình độ cán bộ, công chức, viên chức hiện nay, đảm bảo theo ngạch, bậc, các chương trình, kết cấu theo hướng mở, không trùng lặp, chú trọng đến công tác bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho cán bộ lãnh đạo trong thực thi công vụ. 11 Xác định tiêu chuẩn cán bộ, quan tâm đến công tác tuyển dụng, sử dụng đúng chuyên môn nghiệp vụ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, nhà nước theo vị trí việc làm, cần quan tâm đến công tác cải cách chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ cho cán bộ, công chức và viên chức cho phù hợp đáp ứng được đời sống hiện nay, yên tâm công tác. Đề án chính sách cải cách tiền lương được Đảng và Nhà nước ta xây dựng và thực hiện theo lộ trình từng năm với chính sách phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của đất nước ta hiện nay, từng bước góp phần ổn định đời sống của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước hiện nay.
Tuy nhiên, đã có sự quan tâm nhiều trong công tác cán bộ nhưng việc quản lý, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong nền hành chính nhà nước vẫn còn chưa đáp ứng được yêu cầu, đẩy mạnh công tác cải cách chế độ chính sách cho công chức, viên chức Nhà nước nhưng công tác quản lý nguồn nhân lực trong cơ quan nhà nước ở Việt Nam c̣òn nhiều tồn tại, hạn chế.