Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về tự chủ và cơ chế tự chủ đơn vị sự nghiệp công lập + Khái niệm tự chủ Theo Ngôn ngữ Việt Nam thì khái niệm “tự chủ (động từ): Mình làm chủ lấy mình, không khuất phục ai, không nhờ vả ai, không chịu ai câu thúc: Nước tự chủ, tinh thần tự chủ. Có nghị lực to để dằn lấy dục vọng: Biết tự chủ thì chẳng đến nỗi nào” [22, tr.
Hiểu một cách đơn giản, tự chủ chính là làm chủ bản thân. Đồng thời, người biết tự chủ là người làm chủ được suy nghĩ, tình cảm, hành vi của mình trong mọi hoàn cảnh, điều kiện của cuộc sống. Những cá nhân có tính tự chủ sẽ luôn có thái độ tự tin, bình tĩnh. Đối với các đơn vị sự nghiệp công, việc tự chủ trong hoạt động sẽ giúp đơn vị làm chủ các hoạt động tổ chức của đơn vị, tự biết điều chỉnh, kiểm tra, đánh giá đơn vị và góp phần đưa đơn vị dễ dàng vượt qua khó khăn, thử thách hoàn thành những mục tiêu đề ra phù hợp với những quy định của pháp luật.
+ Cơ chế tự chủ đơn vị sự nghiệp công Hiện nay, khái niệm về cơ chế tự chủ đơn vị sự nghiệp công chỉ được quy định tại điều 3, Nghị định 16. Cụ thể: “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công [18, Điều 3]. Trước đó, tại điều 1, nghị định 43, dù không nói rõ khái niệm “cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công” là gì, nhưng Chính phủ cũng nhấn mạnh 16 “Đơn vị thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật Kế toán”. Tiếp đến tại điều 3 của Nghị định này, Chính phủ xác định “Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Như vậy, cả hai lần ban hành các Nghị định liên quan, Chính phủ đều nhấn mạnh cơ chế tự chủ và việc Nhà nước giao quyền tự chủ về nhân sự, tài chính, tổ chức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp nhà nước. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập, dịch vụ công lập - Đơn vị sự nghiệp công lập + Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công) [18, Điều 2]. Theo điều 9 của Luật Viên Chức được Quốc hội thông qua năm 2010 thì “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Điều luật này cũng chỉ rõ, đơn vị sự nghiệp công lập gồm: a) Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ); b) Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức bộ máy, nhân sự (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ).
17 Theo tác giả Lê Hữu Khanh nhận định “Đơn vị sự nghiệp công lập là đơn vị sự nghiệp được thành lập để cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công đáp ứng nhu cầu của xã hội” [21, tr. Như vậy, dù tiếp cận theo góc độ hành chính Nhà nước được quy định tại các văn bản pháp quy, hay tiếp cận từ góc độ nghiên cứu của học giả Lê Hữu Khanh đều có chung một kết luận: đơn vị sự nghiệp công lập là các đơn vị cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Tuy nhiên, nếu như Nhà nước xác định đó phải là những đơn vị “do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập”, thì Lê Hữu Khanh không đề cập đến chủ thể quản lý các đơn vị này. Trong luận văn này, đơn vị sự nghiệp công lập được tiếp cận theo quan niệm của Nhà nước được quy định trong Luật Viên chức hiện hành.
+ Phân loại đơn vị sự nghiệp công a) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động); b) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách Nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động); c) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động) [14, Điều 9]. - Dịch vụ công + Khái niệm Dịch vụ công là một khái niệm đã được nhiều nhà nghiên cứu bàn luận, cho tới nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất. Có nhiều cách tiếp cận 18 dịch vụ công khác nhau như: tiếp cận theo chủ thể cung ứng; theo khu vực công; theo chức năng, vai trò của Nhà nước; theo đối tượng cung cấp; theo lý luận về hàng hóa công cộng và lựa chọn công cộng,… Trên cơ sở tiếp thu các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước và dựa vào quan điểm, thực tiễn Việt Nam, đa số các nhà nghiên cứu dịch vụ công tại Việt Nam đều dung hòa, thống nhất hai cách tiếp cận cơ bản là: (1) tiếp cận về bản chất và chức năng, vai trò của Nhà nước; (2) tiếp cận về hàng hóa công cộng và lựa chọn công cộng. Theo đó, Chu Văn Thành và các tác giả khác xác định: Dịch vụ công là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiết yếu chung của người dân và cộng đồng, bảo đảm ổn định và công bằng xã hội do Nhà nước chịu trách nhiệm, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận [28, tr.
Hay theo tác giả Lê Hữu Khanh nhận định như sau: Dịch vụ công có tính xã hội, với mục tiêu chính phục vụ lợi ích cộng đồng đáp ứng nhu cầu của tất cả công dân, không phân biệt giai cấp, địa vị xã hội, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội, mang tính quần chúng rộng rãi. Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của Nhà nước. Từ đó, có thể thấy tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết chi phối hoạt động dịch vụ công [21, tr. + Phân loại dịch vụ công Theo quy định của Nhà nước, dịch vụ công được phân thành các nhóm cụ thể sau: Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ; sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác.
19 Dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước là dịch vụ sự nghiệp công mà Nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoặc dịch vụ sự nghiệp công chưa tính đủ chi phí trong giá, phí, được ngân sách Nhà nước hỗ trợ. Dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước là dịch vụ sự nghiệp công có điều kiện xã hội hóa cao, Nhà nước không bao cấp, giá dịch vụ sự nghiệp công theo cơ chế thị trường [18, Điều 3]. Dịch vụ công có đặc trưng: các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước chịu trách nhiệm tổ chức cung ứng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; phục vụ trực tiếp cho nhu cầu, lợi ích cơ bản, thiết yếu của người dân; không vì mục tiêu lợi nhuận; không phân biệt đối tượng cung ứng, thụ hưởng. Căn cứ vào mức độ khác nhau về tính chất công cộng, vai trò, trách nhiệm của Nhà nước và loại chủ thể thực hiện cung cấp các loại dịch vụ công, có thể phân dịch vụ công thành ba loại cơ bản là: dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích.
Phương thức cung ứng chủ yếu là: Nhà nước trực tiếp cung ứng, thực hiện ủy quyền, hợp danh hoặc liên doanh, hợp đồng mua từ bên ngoài, thực hiện các ưu đãi. Chủ thể cung ứng dịch vụ công bao gồm: các tổ chức cung ứng thuộc khu vực công, các tổ chức cung ứng thuộc khu vực tư nhân, các tổ chức cung ứng thuộc khu vực phi chính phủ. Nhà nước có vai trò, trách nhiệm đối với dịch vụ công thể hiện qua: trực tiếp tổ chức thực hiện một số dịch vụ công; xây dựng cơ chế, chính sách chung, thống nhất, đồng thời hoàn thiện cơ chế, chính sách cho mỗi loại dịch vụ công; tăng đầu tư cho dịch vụ công, cả về tài chính và xây dựng hệ thống cung cấp dịch vụ; thống nhất chỉ đạo cung cấp dịch vụ trong toàn xã hội, theo từng ngành, lĩnh vực, từng địa phương, thực hiện việc kiểm tra và can thiệp 20 để việc cung cấp dịch vụ công đáp ứng yêu cầu của xã hội; không ngừng cải tiến việc cung cấp dịch vụ công. Quan điểm của Đảng và Chính quyền về cơ chế tự chủ Thực hiện cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là một trong những chủ trương, chính sách nhất quán, thống nhất từ Đảng đến Chính quyền.
Điều này được thể hiện cụ thể như sau: 1. Quan điểm của Đảng về cơ chế tự chủ Ngày 26/5/2011, Bộ Chính trị ra Thông báo số 37-TB/TW kết luận về Đề án “Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập, đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công”.