Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ VĂN HÓA VÀ KHÁI QUÁT VỀ KHÔNG GIAN VĂN HÓA ĐỒNG THÁP 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm quản lý Giáo trình Xã hội học trong quản lý (Dùng cho hệ cử nhân chính trị) do Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Xã hội học viết: “Quản lý là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên đối tượng theo một quy trình nhất định nhằm đạt được hiệu quả tối ưu so với yêu cầu đặt ra” [28, tr. Hoạt động quản lý được thể hiện với 5 thành tố là: - Chủ thể quản lý - Khách thể quản lý - Mục đích quản lý - Công cụ quản lý - Phương thức quản lý 1.
Khái niệm quản lý văn hóa Từ khái niệm về quản lý, có thể hiểu: Quản lý văn hóa là sự tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể quản lý văn hóa lên các khách thể quản lý văn hóa theo một quy trình nhất định nhằm đạt được mục đích tối ưu mà chủ thể quản lý văn hóa đặt ra. Quản lý văn hóa là hoạt động có tính liên ngành của quản lý xã hội và quản lý văn hóa. Quản lý văn hóa biểu hiện sự lãnh đạo và điều hành của các cơ quan nhà nước được xã hội phân công trong hệ thống hành chính nhà nước. Trong xu thế toàn cầu hóa và sức ép của nền kinh tế thị trường như hiện 14 nay, công tác quản lý văn hóa đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban ngành liên quan và luôn có sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật, những quy định của nhà nước nhằm hướng tới việc quản lý hóa có hiệu quả cao trong từng gian đoạn phát triển cụ thể.
Trong những năm qua, sự đánh giá và chấp nhận những khái niệm quản lý văn hóa, khái niệm người quản lý văn hóa đã được nhìn nhận và thay đổi một cách tích cực. Nghị Quyết Hội nghị Trung ương 5 Khóa VIII của Đảng cộng sản Việt Nam chỉ ra: Củng cố và hoàn thiện các thể chế văn hóa, đảm bảo tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của nhà nước, vai trò làm chủ của nhân dân và lực lượng những người hoạt động văn hóa, tạo nhiều sản phẩm và sinh hoạt văn hóa phong phú, đa dạng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nội dung, cấu trúc của sự quản lý văn hóa với nguyên tắc vừa đảm bảo cho văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí phát triển đúng hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa đảm bảo quyền tự do dân chủ cá nhân trong sáng tạo văn hóa trên cơ sở phát huy tính tự giác cao. Công tác quản lý văn hóa bao gồm hai thành tố là: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần ( hay còn gọi là văn hóa vật thể và văn hóa phi vậ thể); Quản lý văn hóa là sự đinh hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội không ngừng đi lên.
Khái niệm văn hóa rộng, đa nghĩa nên quản lý văn hóa không chỉ là quản lý Nhà nước (theo chiều từ trên xuống), mà còn là sự quản lý của từng người, từng gia đình, tập thể, làng xóm, theo chuẩn mực chung của Nhà nước (theo chiều từ dưới lên). Truyền thống quản lý ở nước ta là “Tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, người ta lấy sự tu dưỡng cá nhân làm điểm xuất phát, sau đó là quản lý gia đình, xóm làng, đất nước. Quản lý văn hóa không chỉ là quản lý các vật hữu hình mà còn quản lý những cái vô hình của sản phẩm tinh thần, tư tưởng của con người. Quản lý văn hóa không chỉ căn cứ vào số lượng bao nhiêu tác phẩm được sáng tạo mà chính là những sáng tạo đó được quần 15 chúng nhân dân tiếp nhận ra sao, có tác dụng vào cuộc sống hiện tại như thế nào.
Sản phẩm hàng hóa văn hóa còn có giá trị “ngoại ứng” ngoài ý muốn, ngoài dự kiến của người sản xuất ra nó. Văn hóa là sự sáng tạo của quần chúng nhân dân được thực hiện thông qua các đại biểu của mình là nghệ sỹ. Các sản phẩm sáng tạo của họ thể hiện những nguyện vọng, tình cảm ấy lại thông qua lăng kính cá nhân văn nghệ sỹ nên không thể không có cái riêng tư của người sáng tác. Quản lý văn hóa không phải theo lối tư duy cứng nhắc, rập khuôn, mà phải chọn những hoàn cảnh cụ thể, những trường hợp cụ thể để xem xét.Văn hóa phản ánh sự phát triển của kinh tế, nhưng không phải lúc nào giữa kinh tế và văn hóa cũng phát triển đồng hành trong mọi thời điểm.
Có khi kinh tế phát triển mà văn hóa chưa phản ánh kịp, ngược lại có khi xã hội đang bế tắc, khủng hoảng, văn hóa lại vươn lên trước. Bởi vậy quản lý văn hóa không phải là sự dịch chuyển của mô hình quản lý kinh tế - xã hội. Nghị Quyết Hội nghị Trung ương 5, khóa VIII chỉ ra nội dung công tác quản lý văn hóa như một cuộc đấu tranh kết hợp giữa “xây” và “chống”. Bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý tập quán tiên bộ, văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian.
Trong cuộc đấu tranh đó “xây” phải đi đôi với “chống”, lấy xây làm chính. Khái niệm quản lý di sản văn hóa phi vật thể 1. Thế nào là di sản văn hóa và di sản văn hóa phi vật thể? “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [40]. Vậy bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa như thế nào để vừa đáp ứng được nhu cầu về văn hóa ngày càng cao của nhân dân, vừa góp phần xây 16 dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào kho tàng di sản văn hóa thế giới.
Để nhân dân thực sự hiểu rõ “ Di sản văn hóa là gì? và trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam trong việc tham gia bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, Luật Di sản văn hóa ra đời và trong đó: “Di sản văn hóa phi vật thể” được hiểu như sau: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác [40]. Quản lý di sản văn hoá phi vật thể Các mô hình quản lý di sản văn hoá phi vật thể: - Tổ chức sưu tầm; - Tổ chức và triển khai các biện pháp bảo tồn; - Tổ chức quảng bá. Để quản lý được các di sản văn hóa phi vật thể một cách hiệu quả nhà nước phải tiến hành thực hiện các dự án nghiên cứu, sưu tầm, thống kê thường xuyên và phân loại các di sản văn hóa phi vật thể trong phạm vi toàn quốc; tăng cường việc truyền dạy, phổ biến, trình diễn, phục dựng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể; đầu tư kinh phí và khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các 17 biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền bằng cách phát huy những thuần phong mỹ tục trong lối sống, nếp sống của dân tộc; bài trừ những hủ tục có hại đến đời sống văn hóa của nhân dân; Khuyến khích việc sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, thống kê, phân loại và lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian của cộng đồng các dân tộc Việt Nam để lưu truyền trong nước và giao lưu với văn hóa nước ngoài; tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống, bài trừ các hủ tục, chống lại các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội; tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt.
Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài khi tiến hành nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam phải được sự đồng ý bằng văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.