phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, phần Phụ lục (bản phân tích mẫu, bảng thống kê, bản đồ, bản vẽ, bản dập và bản ảnh). TONG QUAN VE DI TÍCH 1. Vi tri dia ly, lich str ving đất và con người 1. VỊ trí địa lý Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc Bắc Trung bộ Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội hơn 300km về phía nam.
Trên bản đồ hành chính, địa giới Hà Tĩnh trải đài từ 17°54’ đến 18°50’ vĩ Bac và từ 103°48” đến 108°00° kinh Đông. Phía bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía tây giáp hai tỉnh Borikhamxay và Khammuane của Lào, phía đông giáp biển Đông (Ban do 1). Năm ở phía đông bắc của tỉnh Hà Tĩnh, Nghi Xuân là huyện đồng băng ven biển, cách thành phố Hà Tĩnh 47km, cách thị xã Hong Linh 15 km vé phia nam, phía bắc giáp với thành phố Vinh (Nghệ An), phía đông giáp biển Đông. Day là vùng đất “Địa linh nhân kiệt” hội tụ đầy đủ tinh hoa của núi Hồng, sông Lam.
Và tại đó, tồn tại một địa điểm khảo cô học giai đoạn Tiền - Sơ sử - địa điểm khảo cô học Bãi Cọi. Doc theo Quốc lộ 1A từ bắc vào nam, đi qua cầu Bến Thuỷ (Nghệ An) đến ngã ba Gia Lach, rẽ trái khoảng 3km về đến thị tran Xuân An, tiếp tục đi thêm khoảng Ikm về phía đông nam là xã Xuân Viên - nơi có sự phân bố địa điểm khảo cô học Bãi Cọi (Ban đô 2). Toa độ địa ly Bãi Cọi được xác định là 18°36°31,8” vĩ Bắc, 105944°59,2” kinh Đông (Bản ảnh I, ảnh 1). Địa điểm khảo cô học Bãi Cọi ban đầu được xác định là một cồn cát lớn kéo dai theo hướng đông — tây, thuộc thôn 9 va thôn 10 của xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân.
Di tích nằm trong thung lũng của dãy núi Hồng Lĩnh, phía đông là RU Vực, đưới chân là Rao Vực - thượng nguồn của sông Mỹ Dương, phía tây là núi RG Lần và cánh đồng Cửa Mu, phía nam là cánh đồng Khu Mây và phía bắc là cánh đồng lúa xã Xuân Viên. Bãi Cọi cách bở biển Xuân Thành khoảng 8km về phía đông. Xuyên qua di tích, có con đường liên xã từ Xuân Viên đi Công Khánh và từ Xuân Lĩnh ra Quốc lộ 1A. 15 Ban đầu, di tích Bãi Cọi được xác định chỉ nằm trong khu vực cồn cát Bãi Coi dài khoảng 1km, rộng khoảng 800m có xu hướng thoải dan từ tây sang đông và những người khai quật đã lay con đường liên xã chia cồn cát này thành 2 khu là khu A và B [Nguyễn Mạnh Thắng và nnk, 2009, tr.
Qua đợt khai quật lần 2 năm 2009, khu vực thám sát và khai quật được mở rộng ra phía đông bắc — tức là cả khu vực Bãi Lòi và phía nam, nơi mà năm 1974, các nhà khảo cô học đã từng khai quật di tích Bãi Phôi Phối (Bản đồ 4). Trong quá trình khai quật, các nhà khảo cô học vẫn phân biệt Bãi Cọi, Bãi Loi, Bãi Phôi Phối. Tuy nhiên, trên thực tế, có thé coi những “bãi” này đều thuộc hệ thống di tích Bãi Cọi bởi chúng cùng nằm trên một dai địa hình cồn cát kéo dai, tuy bị chia cắt bởi khu dân cư sinh sống và địa hình canh tác. Thêm vào đó, những hiện vật khai quật tại những khu vực này có cùng đặc điểm, tính chất và niên đại tương tự nhau.
Phạm vi rộng hay hẹp của một địa điểm có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong luận văn này, khái niệm “địa điểm khảo cô học Bãi Cọi” được tác giả xác định là bao gồm cồn cát Bãi Cọi và các điểm xung quanh như Bãi Loi, Bãi Phôi Phối với diện tích trên 1km?. Trong đó, cồn cát Bãi Cọi được coi là khu trung tâm của địa điểm này, nơi đầu tiên phát hiện và khai quật; Bãi Phôi Phối về mặt hình thé tự nhiên cũng chính là một bộ phận của cồn cát Bãi Cọi và tên gọi này tuy không còn được người dân sử dụng phô biến, nhưng đã được tồn tại trong các nghiên cứu khảo cô nên chúng tôi vẫn phân định khu vực riêng ngăn cách với Bai Cọi bởi con đường liên xã. Dia điểm khảo cô học Bãi Cọi tạo thành một hình tam giác cân có đáy là cồn cát Bãi Cọi - Bãi Phôi Phối cạnh 1,5km và phần đỉnh là cồn cát Bãi Lòi.
Như vậy có thể thấy, địa điểm khảo cô học Bãi Cọi nam trong hệ thống các di tích khảo cổ học tiền sơ sử tinh Ha Tinh cũng như khu vực miền Trung Việt Nam (Bản do 3). Bãi Cọi cách di tích Lang Vac (Nghệ An) khoảng 80km 16 về phía bắc, di chỉ Thạch Lạc khoảng 35km về phía nam, Cương Hà, Cổ Giang (Quảng Bình) 120km, Cồn Dài, Cồn Ràng (Thừa Thiên - Huế) 300km. Đây là vị trí giáp ranh giữa hai khu vực miền Bắc trung bộ - miền Trung trung bộ, khu vực chuyền giao của hai nền văn hóa khảo cô học nỗi tiếng Đông Sơn - Sa Huỳnh. Cảnh quan tự nhiên Về địa hình, Nghi Xuân được xác định là một huyện đồng băng ven biển, tuy nhiên, phía tây nam tiếp giáp với Hồng Lĩnh là núi cao, dưới chân núi là các cồn cát tương đối bằng phăng và các cánh đồng trải dài ra phía đông.
Địa điểm khảo cổ học Bãi Cọi nằm giáp chân núi, kẹp giữa hai dãy núi của hệ thong núi Hông Lĩnh, độ cao từ 6 - 7m so với mực nước biên. Di tích thuộc loại hình cồn cát, kéo dài từ chân núi ra phía đông. Bè mặt di tích phủ đất cát màu xám trắng, có thê cải tạo để canh tác các cây hoa màu. Bên cạnh côn cát là các khoảnh ruộng trũng được người dân trồng lúa (Bản ảnh 2 — Bản ảnh 5).
Về khí hậu: cũng như các khu vực khác trong tinh Ha Tĩnh, huyện Nghỉ Xuân năm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa với đặc trưng của khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa Trung Quốc tràn về bị suy yếu nên mùa đông đã bớt lạnh hơn và ngắn hơn so với các tỉnh miền Bắc và chia làm hai mùa rõ rệt, một mùa lạnh và một mùa nóng. Nhiệt độ bình quân thường cao. Nhiệt độ bình quân mùa đông từ 18-22°C, trong khi mùa hè là từ 25,5 - 33°C.
Theo thông tin trên Công thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Dau tu’, Hà Tĩnh là tỉnh có lượng mưa nhiều ở miền Bắc Việt Nam, trừ một phần nhỏ ở phía Băc, còn lại các vùng khác có lượng mưa bình quân hàng năm đêu trên * http://www.vn/Pages/tinhthanhchitiet.aspx?idTinhThanh=7 17 2000mm. Hạ tuần thang 8, tháng 9 và trung tuần tháng 11 lượng mưa chiếm 54% tông lượng mưa cả năm, lại thường hứng chịu những cơn bão từ biển Đông gây nên lũ lụt. Từ tháng 12 đến tháng 7 năm sau là mùa nắng gắt, có gió Tây Nam (thôi từ Lào) khô, nóng, lượng bốc hơi lớn. Nhìn chung, địa điểm Bãi Cọi nằm trên một khu vực có môi trường địa lý và tự nhiên thuận lợi: gan bién, gan nguồn nước (Rào Vực), có cả núi và đồng bằng.
Đây là điều kiện cho phép việc cư trú lâu dài của con người ngày từ thời xa xưa. Tại đây, dưới lòng đất còn lưu lại những bằng chứng cho sự tồn tại của con người từ thời Hậu ky Đá mới, đặc biệt là bằng chứng khảo cổ học của di tích Bãi Cọi. Với hệ thống cồn cát nối dai cho thấy chứng tích đường bờ biển cô đã tồn tại cách ngày nay hàng nghìn năm ở khu vực này. Điều này có nghĩa con đường giao thương trên biển đã mở ra, tạo điều kiện cho người cô có thé thâm nhập nhiều chiều, đi lại giữa các vùng miền từ vùng núi, đất liền đến các vùng hải đảo, vùng duyên hải khác một cách dễ dàng [Phạm Thị Ninh, 2016].
Lịch sử vùng đất và con người Huyện Nghi Xuân là địa phương có lịch sử lâu đời và được xem là vùng “địa linh - nhân kiệt” hội tụ day đủ tinh hoa của không gian văn hóa Hồng Lĩnh - Lam giang. Huyện Nghi Xuân hiện nay có 2 thị tran: Nghi Xuân, Xuân An và 17 xã: Cổ Đạm, Cương Gián, Tiên Điền, Xuân Đan, Xuân Giang, Xuân Hai, Xuân Hội, Xuân Hồng, Xuân Lam, Xuân Liên, Xuân Lĩnh, Xuân Mỹ, Xuân Phổ, Xuân Thành, Xuân Trường, Xuân Viên, Xuân Yên với diện tích khoảng 218km?, dân số: 100. Nghi Xuân nói riêng, tiêu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh nói chung đã sớm được cư dân cô khai phá. Đại Việt sử ký toàn tu cho biết: Thời Thành Vương nhà Chu (khoảng năm 1063 - 1026 trước Công nguyên), nước Việt ta lần đầu Ÿ http://www.vn/?Code=281&Products= 18 sang thăm nhà Chu (không rõ vào đời Hùng Vương thứ mấy), xưng là Việt Thường thị, hiến chim trĩ trắng [Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sỹ Liên, 1993, tr.
Sự kiện Việt Thường dâng chim trĩ được các chép lại trong nhiều nguồn tài liệu khác như Đại Việt sử lược [Nguyễn Gia Tường, Nguyễn Khắc Thuan, 1993], Viét Nam sử lược [Trần Trọng Kim, 2008]. với nội dung khá đồng nhất “.đến đời Thành Vuong nhà Chu (1024 - 1005 trước CN), Việt Thường Thị mới đem dâng con bạch trĩ, sách Xuân Thu gọi là Khuyết địa, Đái ký.”[Khuyết Danh, 2005, tr. Dau nước Việt Thường chỉ được dé cập một cách khá tan mát, rời rac và đến thời điểm hiện tại, các nhà khoa học chưa tim được chứng cứ vật chat dé chứng minh sự ton tại của quốc gia cổ này nhưng theo quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, nếu that sự có sự hiện điện của nước Việt Thường trên lãnh thổ nước ta thì cương vực của Việt Thường nằm đâu đó ở vùng Thanh - Nghệ. Có quan điểm cho răng Việt Thường Thị hình thành trên cơ sở của các bộ lạc sau khi giải thể xã hội nguyên thủy, bước vào ngưỡng cửa xã hội văn minh đầu tiên trước nha nước sơ khai.
Theo ông Bùi Thiết, phạm vi của Việt Thường Thị tương ứng với vùng Nghệ An - Hà Tĩnh ngày nay mả Hồng Lĩnh là trung tâm [Bùi Thiết, 2016, tr. Đến thời Hùng Vương, sau khi dựng nước Văn Lang, vua Hùng đã chia đất nước thành 15 Bộ (tương đương 15 đơn vị hành chính) bao gồm: Giao Chi, Việt Thường, Vũ Ninh, Quân Ninh, Gia Ninh, Ninh Hai, Lục Hải, Thang Tuyền, Tân Xương, Bình Văn, Văn Lang, Cửu Chân, Nhật Nam, Hoài Hoan, Cửu Đức [Đào Duy Anh, 2005, tr. Trong đó, huyện Nghi Xuân nằm trong địa giới Bộ Cửu Đức. Thời nhà Hán (Bắc thuộc), Nghi Xuân thuộc huyện Hàm Hoan, quận Cửu Chân.