Chương 1 VAI NET VE BIA ĐÁ THE KY XVII VÀ 17 NGÔI CHUA TIEU BIEU CUA 10 HUYEN NGOAI THANH HA NOI 1. Vài nét về bia đá Việt Nam 1. Khái niệm về bia đá: Hiện nay, các làng quê ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam, chúng ta đều có thé gặp những bia đá dựng ở đình, chùa, đền, miéu hoặc trong các ngõ xóm. nhưng mấy ai hiểu được hết giá trị của những bia đá.
Bởi nó là sản phẩm của một thời đã qua, ân chứa nhiều thông tin về quá khứ của từng làng xã Việt thời trung đại. Bia vốn là âm “bi - ##” xuất hiện cùng những chiếc bia đầu tiên vào thời nhà Chu (Trung Quốc). Ban đầu bia chỉ là những cột đá được dựng ở cửa miéu dùng dé buộc vật tế sinh và do bóng mặt trời hay những cột gỗ chôn bên huyệt mộ để buộc dây thả quan tài. Bia này ban đầu vốn không có chữ, sau nhân đó mà khắc bai văn lên.
Lệ khắc bai văn lên bia mới có từ thời Đông Hán vào những năm đầu công nguyên trở đi. Rồi quy định thành lệ: “Bia có mặt trước gọi là mặt đương, mặt sau gọi là mặt âm, hai bên gọi là mé bia, phía trên gọi là trán bia, phía dưới là bệ bia. Bệ bia của loại bia bình thường là khói đá vuông, còn đối với loại bia hoa mỹ thì được tạc thành hình rùa. Bài văn khắc trên bia gọi là văn bia (minh văn).
Ở trán bia khắc tiêu dé, mặt dương khắc nội dung bài văn bia, mặt âm và mé bia khắc tên người. Có bài văn dài, khắc ở mặt dương không hết thì khắc tiếp sang mặt âm và mé bia” [23. Lệ dựng bia và quy cách tạo bia như trên cũng ở một số nước trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hoá Hán như Triều Tiên, Nhật Bản. Ở Việt Nam có thê nói rang không một làng qué nao, một sự kiện quan trọng liên quan cộng 12 đồng trong làng xã thời phong kiến lại không được dựng bia ghi lại.
Sự hiện diện của mỗi bia đá, mỗi bài văn khắc trên đó như một trang “sử da” trong làng xã Việt Nam qua các triều đại. Bởi: “Xảy dung lâu ngày, cõi báu đã xong, nếu không khắc bia ghỉ lại, thì con chau mai sau không biết tim đâu để noi theo dấu vết, nên phải dùng văn trình bày rõ ràng công việc đã làm, để cho dù nhân vật có đổi đời thì tiếng lành vẫn truyền mãi” [63, tr. 40]; hoặc trong một số nội dung văn bia đã khang định: “Bia la khắc lên đá để ghi sự việc mà ngợi ca sự hưng thịnh và lưu truyền công đức mãi mãi vậy” (bia chùa Số, Đức Long 4 - 1632). Bia đá Việt Nam qua các thời ky: Bia đá Việt Nam có hai loại chính là bia đá khối rời và bia khắc trên vách núi (bia ma nhai).
Trong đó, bia khối rời chiếm tỷ lệ phố biến, được đặt trong di tích truyền thống của người Việt (như đình, chùa, đền, miéu, lăng mộ, từ chỉ, từ đường. Đó là những bia ghi lại các sự việc liên quan, tác động đến di tích như bia ghi thần tích, bia ghi việc tạo dựng và trùng tu di tích, bia hậu Thần, hậu Phật. Do đó, bia đá đã trở thành một bộ phận quan trọng và tô điểm di tích thêm phần cô kính trang nghiêm. Vì thế, mỗi bia đá đều được quy ước chặt chẽ về nội dung văn bia, tạo hình và thư pháp.
điều đó phản ánh nhận thức và khả năng thẩm mỹ của mỗi tầng lớp xã hội, mỗi thời đại. Ngoài các bia đá mang tinh chất khối rời phổ biến trong các di tích tôn giáo, tín ngưỡng như đã được đề cập đến ở trên, còn có loại hình bia đá khác - đó là bia ma nhai (có nghĩa là bia mài lên vách đá) như chùa Thay (Quốc Oai - Hà Nội), chùa Hương (Mỹ Đức - Hà Nội), chùa Trầm (Chương Mỹ - Hà Nội), động Kính Chủ (Kinh Môn - Hải Dương). Bia ma nhai có đặc điểm chung là khuôn khổ bia không bị hạn chế bởi vật liệu tạo tác, ma tuỳ thuộc vào độ dài, ngắn của bai văn bia. Phan lớn bia không có hình trang tri, không 13 có trán bia, dé bia ma chỉ được đóng khung bằng đường viền xung quanh.
Tuy nhiên, một số bia đá cũng được trang trí khá đẹp cả phần diềm trán bia, diém thân bia, điềm chân bia như bia chùa Thầy (Quốc Oai - Hà Nội). Nội dung của bia ma nhai thường là những bai thơ, bài văn ngẫu hứng trước cảnh thiên nhiên, trước sự việc ma vua, quan khi di tuần thú, chinh phạt hoặc vãn cảnh đề tặng. Lệ dựng bia, khắc đá ở Việt Nam chưa rõ có từ khi nào. Song, tắm bia sớm nhất hiện biết là bia “Đại Tuy Cứu Chân quận bảo an đạo tràng chi bi văn” nguyên ở làng Trường Xuân, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá, niên hiệu Đại Nghiệp thứ 14 (618) thời Bắc thuộc, niên hiệu nhà Tuỳ.
Hiện bia đá này được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Sau đó là những cột kinh Phật mang tên “Phật đỉnh tôn thắng gia chú linh nghiệm đà la ni” 8 mặt ở chùa Nhất Trụ - Hoa Lu (Ninh Bình) khắc vào thời Dinh (968 - 979). - Bia thế kỷ XI - XII (thời Lý): Cho đến nay nhiều bia thời Lý không còn giữ nguyên được hiện trạng của chúng, một phần đã bị bào mòn bởi thiên nhiên hoặc đã bị thời sau sửa chữa, thêm bớt cả nội dung lẫn hình thức (kiêu dáng hoa văn, chữ khắc). Theo Lê Thị Liên trong bài “Máy nhận xét về bi ký Lý - Tran” (Thông báo Hán Nôm học năm 1996) mới thống kê được 13 bia đá thời Lý phân bố rải rác trong các di tích (bao gồm cả những thác bản đã được trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp sưu tầm và lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
Từ đó đến nay vẫn còn tiếp tục được phát hiện. - Bia thé kỷ XIII - XIV (thời Tran): Cũng trong bài “Máy nhận xét về bi ký Lý - Trần” của Lê Thị Liên đã thống kê được 32 bia đá và vẫn còn được tiếp tục phát hiện. Hiện nay những thác bản này hầu hết được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Han Nom. 14 Địa ban phân bố của những tam bia thời Tran trải dai hơn thời Lý, phía Bắc tới huyện Vị Xuyên, Hà Giang (như bia chùa Sùng Khánh, khắc năm 1367), phía Nam tới Thanh Hoá (bia chùa Hưng Phúc khắc năm 1324; bia Sung Nghiêm, khắc năm 1372.
- Bia thé kỷ XV (thời Lê So): Theo thông kê trong cuỗn “Văn khắc Hán Nôm Việt Nam” của Trịnh Khắc Mạnh hiện nay thời Lê Sơ còn hơn 70 bia đá, tập trung chủ yếu ở khu Lam Kinh (Thanh Hoá), hoặc bia Tiến sĩ ở Văn miéu Quốc Tử Giám Hà Nội, ngoài ra còn một số bia phân bồ rải rác trong các di tích. - Bia thé kỷ XVI (thời Lê - Mac): Bia thé kỷ XVI được biết đến đều xuất hiện từ Thanh Hoá, Nghệ An trở ra. Trong đó, bia mang niên hiệu nhà Lê tập trung chủ yếu ở Thanh Hoá - đất phát tích và trung hưng của nhà Lê, bia mang niên hiệu nhà Mạc tập trung chủ yếu ở các vùng Kiến An, Hải Dương và các vùng phụ cận Thăng Long”. Theo Thu mục giản lược của Viện Nghiên cứu Han Nôm thì thế kỷ XVI hiện sưu tập được 207 chiếc, trong đó có 17 bia thần tích mang niên hiệu Hồng Phúc 1 (1572), 147 bia Mạc và 43 bia Lê có niên dai đích thực ghi trên bia.
Trong số 43 bia Lê có 27 bia ở giai đoạn đầu thế kỷ trước khi có nhà Mạc và 16 bia ở giai đoạn đồng thời với bia Mạc. Bia Mạc xuất hiện liên tục từ năm 1529 đến năm 1592. Theo Đinh Khắc Thuân trong “Văn bia thời Mạc” đã thống kê bia đá thế kỷ XVI được phân bố rải rác ở khắp các tỉnh, bia nhà > Bởi nhà Mạc tuy lên ngôi vào năm 1527, nhưng quyên thống trị vẫn còn yếu trên miễn đất từ Thanh Hoá trở vào. Năm 1533 nhà Lê dựng lại sự nghiệp, nắm vững vùng đất Thanh Hoá, Nghệ An.
Từ đó tôn tại đồng thời hai vương triều Lê - Mạc. Năm 1592 nhà Mac thất bại, phải rút khỏi Thăng Long. Sau đó kéo dài sang thé kỷ XVII ở vùng Cao Bằng, song vai trò cua nhà Mac chủ yếu ở giai đoạn thé kỷ XVI trên các vùng đất xung quanh Thăng Long từ Ninh Bình trở ra. 15 Lê giai đoạn đầu thế kỷ XVI gồm: Thanh Hoá (10 bia); Nghệ An (3 bia); Kiến An (1 bia); Hai Duong (2 bia); Hà Đông (3 bia), Hà Nội (2 bia); Hưng Yên (01 bia); Sơn Tây (02 bia); Nam Dinh (03 bia).
Bia Lê giai đoạn đồng thời với nhà Mạc gồm Thanh Hoá (01 bia), Nghệ An (01 bia); Hải Dương (01 bia); Hà Đông (01 bia); Ninh Bình (01 bia). Bia thời Mạc gồm Kiến An (21 bia); Hải Duong (29 bia); Hà Tây (24 bia); Hà Nội (04 bia); Hưng Yên (11 bia); Nam Định (11 bia); Ninh Bình (13 bia); Thái Bình (7 bia); Bắc Ninh (11 bia); Bắc Giang (2 bia); Vĩnh Yên (7 bia); Phú Thọ (3 bia); Quảng Yên (3 bia), Tuyên Quang (1 bia) [54, tr. - Thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII - nửa cuối thế kỷ XVID: Thời Lê Trung Hưng số lượng bia được tạo dựng lớn hơn rất nhiều so với thời kỳ trước, lại phân bố rộng khắp trong các làng xã, không có sự tập trung như ở các thời kỳ trước: “Nếu trung tâm bia thời Lê Sơ ở Thanh Hoá, chủ yếu gém bia về lăng mộ nhà Lê, thì trung tâm bia Mac chủ yếu ở Kiến An (Hai Phòng), phổ biến là bia chùa Phật” [55, tr. Việc sưu tầm và dap thác bản của các cơ quan liên quan như Viện nghiên cứu Hán Nôm, các Sở Văn hoá thông tin.
cho đến nay vẫn chưa có con số thống kê cụ thé. Theo “Van khắc Hán Nôm” của Trịnh Khắc Mạnh (Viện Nghiên cứu Hán Nôm thời kỳ này có khoảng vài ngàn văn khắc. Riêng vùng Kinh Bắc xưa đã được Phạm Thị Thuỳ Vinh tổng kết trong cuốn “Văn bia thời Lê xứ Kinh Bắc và sự phản ánh chế độ sinh hoạt làng xã” đã thong kê được 1.063 bia, số ban dập chủ yêu nằm trong kho thác bản văn bia hiện có ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm [69, tr. Việc nghiên cứu và sưu tầm bia đá thời kỳ này vẫn đang được tiễn hành.
- Bia cuối thé kỷ XVII (thời Tây Sơn): Triều Tây Sơn vôn di rất ngắn ngủi, lại bị huỷ hoại bởi một số chính sách của nhà Nguyễn, do đó tư liệu bị 16 mat mát, thất lạc nhiều.