Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH VÀ TỔNG QUAN VỀ DI TÍCH VĂN THÁNH MIẾU VĨNH LONG 1. Di sản văn hóa Theo Điều 1, Công ước di sản thế giới 1972 [31] thì di sản văn hóa là: Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình có sự liên kết giữa nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các quần thể các công trình xây dựng: Các quần thể các công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học. Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học.
Luật Di sản văn hóa định nghĩa: Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Điều 1, Luật Di sản văn hóa quy định: di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Trong đó: 16 - Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác. - Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử -văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
Thực tiễn sự phân chia di sản văn hóa thành vật thể và phi vật thể nhằm để nghiên cứu những đặc tính riêng của từng di sản, bởi các di sản văn hóa vốn đều là do con người sáng tạo ra, có giá trị về vật chất và tinh thần, các yếu tố vật thể và phi vật thể gắn kết chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại và làm nên giá trị di sản. Di sản văn hóa phi vật thể là linh hồn là cái bên trong, còn di sản văn hóa vật thể tồn tại hiện hữu, bên ngoài tạo nên giá trị thực tế của di sản. Vì vậy, di sản văn hóa còn được phân loại dựa trên giá trị theo các nhóm di sản có giá trị cấp quốc tế, có giá trị cấp quốc gia và di sản có giá trị cấp địa phương. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa Quản lý nhà nước về di sản văn hóa được quy định tại Chương V, Luật Di sản văn hóa [22], bao gồm 15 Điều, từ Điều 54 đến Điều 68 và được chia thành 4 mục: Mục 1: Nội dung quản lý nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa, gồm 3 Điều từ Điều 54 đến Điều 56.
Trong đó Điều 54 quy định rõ nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa gồm: - Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch kế hoạch chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; - Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; 17 - Tuyên truyền phổ biến, giáo dục huy động quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; - Tổ chức chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; - Tổ chức và hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về di sản văn hóa. Điều 55, 56 quy định trách nhiệm của Chính phủ, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, các cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ UBND các cấp trong việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa. Mục 2: Nguồn lực cho các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa, gồm 6 Điều từ Điều 57 đến Điều 62, quy định những nội dung: - Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các hội về văn học và nghệ thuật, khoa học và công nghệ tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; - Khuyến khích hoạt việc xã hội hóa hoạt động bảo vệ và phát huy di sản văn hóa; nguồn tài chính, chính sách nhà nước đầu tư ngân sách, huy động các nguồn lực xã hội hóa cho các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di tích; - Việc thu phí tham quan và lệ phí sử dụng di tích, sưu tập, bảo tàng theo quy định của pháp luật; chính sách khuyến khích tổ chức cá nhân đóng góp tài trợ; quản lý và sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả nguồn tài chính cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Mục 3: Hợp tác quốc tế về di sản văn hóa, gồm 3 Điều từ Điều 63 đến Điều 65 quy định về chính sách và biện pháp đẩy mạnh quan hệ hợp tác quốc tế với các nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; khuyến khích người Việt Nam và các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài tham gia các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa 18 Việt Nam theo quy định của pháp luật.
Mục 4: Thanh tra giải quyết khiếu nại tố cáo về di sản văn hóa, gồm 3 Điều từ Điều 66 đến Điều 68, quy định nhiệm vụ của thanh tra Nhà nước về văn hóa nghệ thuật thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về di sản văn hóa; quyền và nghĩa vụ của thanh tra; quyền khiếu nại, khởi kiện và tố cáo đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của tổ chức cá nhân; thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo. Từ cơ sở luật Di sản văn hóa đã khẳng định, công tác quản lý di sản văn hóa là trách nhiệm không chỉ riêng đối với bộ máy nhà nước mà các cơ quan quản lý văn hóa thông qua các cơ chế, chính sách hoạt động để định hướng tới cộng đồng xã hội và lợi ích chung của cộng đồng trong quản lý di sản văn hóa. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý di sản đó là các nhân tố sức ép về phát triển của quá trình đô thị hóa, công tác đảm bảo an ninh bảo vệ các di vật, cổ vật tại di sản, ảnh hưởng tác động của môi trường tự nhiên và nhận thức của cộng đồng dân cư trong bảo vệ di sản. Di tích lịch sử - văn hóa Di tích lịch sử là những di tích ghi nhận các sự kiện lịch hoặc các đặc điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển của mình.
Di tích lịch sử - văn hóa là một bộ phận của di sản văn hóa dân tộc. Ở nước ta, với lịch sử hàng ngàn năm liên tiếp dân tộc phải chống giặc ngoại xâm. Sự tồn tại của các di tích lịch sử - văn hóa là nguồn sử liệu trực tiếp, cho những thông tin quan trọng để khôi phục các trang sử hùng tráng của dân tộc. Đó là những tài sản quý giá mà cha ông ta đã để lại cho hậu thế, qua di tích lịch sử - văn hóa, ta hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hóa dân tộc.
Điều 1, Hiến chương Vermice “Hiến chương Quốc tế về bảo tồn và trùng tu Di tích và Di chỉ” (1964) quy định: “không chỉ là một công trình kiến trúc đơn chiếc mà cả khung cảnh đô thị hoặc nông thôn có chứng tích của một nền 19 văn minh riêng, một phát triển có ý nghĩa hoặc một sự kiện lịch sử. Khái niệm này không chỉ áp dụng với những công trình nghệ thuật to lớn mà cả với những công trình khiêm tốn hơn vốn đã, cùng với thời gian, thâu nạp được một ý nghĩa văn hoá. Trong đó: danh lam thắng cảnh được hiểu “là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ khoa học”. Cổ vật được hiểu “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”.
Bảo vật quốc gia được hiểu “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học”. Theo luật Di sản văn hóa, di tích được phân loại thành 04 loại hình: di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích khảo cổ học và di tích danh lam thắng cảnh. Loại hình di tích lịch sử bao gồm: những công trình địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước; gắn với lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến. Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật bao gồm: quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
Loại hình di tích khảo cổ học là: cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người trong lịch sử để lại có giá trị về lịch sử, văn hóa, khoa học. [22] 20 Phân cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương và giá trị của di tích được chia thành 3 loại: Di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh.