Chương 1 GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VIỆT NAM VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP 1. Giá trị truyền thống Việt Nam 1. Quan niệm về giá trị truyền thống Giá trị là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học nhân văn như triết học, tâm lý học, đạo đức học, xã hội học, kinh tế học. dùng để chỉ ý nghĩa văn hoá và xã hội của các sự vật hiện tượng, của sự đa dạng trong hoạt động người, của các quan hệ xã hội, bao gồm cả những hiện tượng tự nhiên có liên quan với những nội dung rộng, hẹp, cụ thể khác nhau.
Giá trị của các sự vật hiện tượng chỉ tồn tại trong mối quan hệ chủ thể - khách thể, ngoài mối quan hệ đó thì các sự vật hiện tượng không được định hình về mặt giá trị. Giá trị là mặt xã hội của khách thể, nó nêu lên tính tích cực hoặc tiêu cực của khách thể đối với chủ thể. Những đặc tính đặc trưng của khách thể nói lên những chức năng khác nhau của khách thể trong mối quan hệ với nhu cầu, hoạt động sinh sống hàng ngày của con người. Thực tế khi mọi vật tồn tại với tư cách tự nó thì tự thân chúng không mang lại bất kỳ giá trị nào, chúng không được nhìn nhận, không được đánh giá trong những khuôn thước của tốt và xấu, chân lý và sai lầm, được phép và cấm kỵ, chính nghĩa và phi nghĩa, thiện và ác, giá trị và không giá trị.
Khi sự vật hiện tượng đặt trong mối quan hệ với con người, nghĩa là nó tồn tại với tư cách cho cái khác, vì cái khác thì chúng mới được nhìn nhận đánh giá, mới có hệ thống các thuộc tính để nhận xét về sự tồn tại của chúng. Giá trị có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của con người, nó là cơ sở để con người căn cứ vào đó xác định mục đích, phương hướng 10 z sống cho hoạt động của mình. Vì vậy nói đến giá trị tức là khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, bao hàm cả việc coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp. Như thế, giá trị là "thành phần quan trọng nhất của văn hoá con người bên cạnh các chuẩn mực và các lý tưởng.
Sự tồn tại của giá trị bắt rễ sâu trong tính tích cực của chủ thể sáng tạo văn hoá, trong sự đối thoại của chủ thể sáng tạo với người khác. Giá trị định hướng không chỉ đối với các lĩnh vực hiện tồn mà còn đối với cả các ý nghĩa và các chuẩn mực có thể" [68, tr. Giá trị bao gồm hai thuộc tính cơ bản đó là thuộc tính xã hội và thuộc tính lịch sử. Thuộc tính xã hội của giá trị một mặt khẳng định giá trị chỉ được định hình, chỉ có nội dung khi nó nằm trong mối quan hệ chủ thể - khách thể.
Trong mối quan hệ đó do lợi ích, mục đích của chủ thể nên các sự vật hiện tượng mới được xác định về mặt giá trị. Mặt khác, tính xã hội của giá trị còn nói lên rằng giá trị có thể có ý nghĩa với cộng đồng này nhưng có thể không có ý nghĩa thậm chí phản ý nghĩa đối với cộng đồng khác. Xét đến cùng giá trị có ý nghĩa tích cực hoặc tiêu cực là do quan niệm, tín ngưỡng của cộng đồng người quy định. Ví dụ, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là tín ngưỡng thể hiện sự nhớ ơn, biết ơn đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên; thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn.
Ở cộng đồng người theo Thiên chúa giáo thì tín ngưỡng này không có giá trị bởi theo giáo lý của Thiên chúa giáo, khi con người ta chết đi không phải là kết thúc cuộc sống mà đó chỉ là kết thúc một giai đoạn sống và bắt đầu một giai đoạn sống mới, họ sẽ được lên Thiên Đàng, cả thể xác và linh hồn người chết đều được về bên Chúa và cuộc sống trong giai đoạn này mới thực sự là cuộc sống mà con người ta mong muốn. Do vậy, nhiệm vụ của những người sống không phải là thắp hương tưởng nhớ những người đã chết mà là dâng hoa, cầu kinh tỏ lòng thành kính đối với Thiên chúa và để cho thể xác, linh hồn người chết được siêu thoát. 11 z Ngược lại, tín ngưỡng này lại mang giá trị rất lớn ở cộng đồng người không theo Thiên chúa giáo (những người bên lương). Nó chi phối tư tưởng, phong tục tập quán của họ.
Nếu ai đó mà hành động như những người theo Thiên chúa giáo, nghĩa là không thờ cúng ông bà, tổ tiên, không nhớ ngày giỗ tết ông bà, cha mẹ sẽ bị coi là bất hiếu, vô đạo bởi trong quan niệm của họ khi con người ta chết đi thì chỉ phần thể xác mất đi, còn linh hồn vẫn tồn tại, vẫn "quẩn quanh" đâu đó bên con cháu, phù hộ và giúp đỡ con cháu. Vì thế mới có tục cúng cơm 49 ngày, tục cải táng. Ngoài ra bản thân mỗi giá trị còn bao hàm trong nó tính lịch sử. Điều đó có nghĩa là mỗi thời kỳ lịch sử xác định, có những giá trị nổi lên trở thành hệ tiêu chuẩn Chân - Thiện - Mỹ để nhìn nhận, đánh giá về hành vi, thái độ, trách nhiệm của cá nhân hay cộng đồng người.
Tuy nhiên sự tồn tại đó không có tính vĩnh viễn và bất biến, nghĩa là trong giai đoạn này giá trị này mang ý nghĩa tích cực nhưng cũng giá trị ấy đặt trong giai đoạn lịch sử khác thì nó không còn mang ý nghĩa tích cực nữa, mặc dù vậy cũng không hẳn là giá trị đó đã mang ý nghĩa tiêu cực. Những năm trước Cách mạng tháng Tám, tiêu chuẩn để đánh giá nét đẹp của một cô gái Kinh Bắc là khăn mỏ quạ, áo tứ thân, răng đen. những tiêu chuẩn đó đã được ngợi ca trong văn, thơ ca. Trong bài thơ: "Bên kia sông Đuống" nhà thơ Hoàng Cầm có viết: "Những cô hàng xén răng đen Cười như mùa thu toả nắng." Đó là nét đẹp đại diện cho một thời kỳ lịch sử đã qua, trong xã hội hiện đại những điều đó không còn là tiêu chí của cái đẹp nữa.
Nếu ai đó xuất hiện với những nét đặc trưng đó thì chỉ là trên sân khấu, thông qua những vở kịch, những nhân vật nhằm tái hiện lại một giai đoạn lịch sử. 12 z Như vậy, mỗi thời kỳ lịch sử đi qua, sẽ có sự chuyển đổi thang các giá trị. Các giá trị sẽ được gạn lọc để phù hợp với những điều kiện mới, có những giá trị chung, toàn nhân loại, cũng có những giá trị lâu bền được kế thừa qua nhiều thời đại và được bổ sung nâng cao lên nhưng cũng có những giá trị có phạm vi ảnh hưởng và thời gian tồn tại ít hơn. Có những giá trị sẽ mất đi hoặc mờ nhạt dần khi hoàn cảnh lịch sử thay đổi và có những giá trị mới được hình thành.
Những giá trị chung, phổ biến chính là cơ sở quan trọng tạo nên sự liên kết các thành viên trong cộng đồng. Mỗi dân tộc đều có hệ thống những giá trị có tính chất truyền thống do lịch sử để lại. Truyền thống được hiểu là những hiện tượng văn hóa xã hội, bao gồm các chuẩn mực trong giao tiếp ứng xử, các phong tục tập quán, các nghi lễ, các thiết chế xã hội… đã trở nên ổn định được đông đảo thừa nhận và đã ăn sâu vào tâm lý, tập quán xã hội, được nối dài theo nhiều thế hệ, qua nhiều đời của dân tộc. Trong từ điển tiếng việt, truyền thống được hiểu là: "thói quen đã hình thành lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác" [65, tr.
Như vậy truyền thống chính là một bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được thể hiện ở những đặc trưng cơ bản là tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền. Đây là ba tính chất cơ bản nhất để xác định những yếu tố truyền thống với những gì không phải là truyền thống. Trong đời sống xã hội sự tác động và chi phối của truyền thống là rất lớn; nó là cái định hướng, hướng đích cho mọi hành động của cộng đồng người. Thực tế "bằng cách không lãng quên truyền thống, khai thác những giá trị nhân bản của truyền thống, làm cho các giá trị hiện đại ăn nhập hoặc không mâu thuẫn với các giá trị truyền thống.
Đó là con đường tự nhiên và tất yếu mà các xã hội dù muốn hay không, dù nhận thức được hay chưa nhận thức được cũng đều phải thực hiện để đạt tới sự phát triển bền vững" [9, tr. 13 z Nói đến truyền thống là nói đến những hiện tượng văn hoá, chuẩn mực, phong tục tập quán được định hình trong thời gian. Tuy nhiên độ dài lịch sử chưa phải là phẩm chất cốt lõi của truyền thống, mà cái chính là ý nghĩa xã hội của nó. Trong truyền thống bao hàm cả mặt tích cực, tiêu cực, thậm chí phản giá trị.
Một truyền thống đóng vai trò là cơ sở làm thành bản sắc, "cốt cách" của cộng đồng dân tộc, nó định hướng cho việc xác lập thể chế chính trị, là hệ chuẩn giá trị để nhìn nhận, đánh giá những tư tưởng ngoại lai được du nhập vào cộng đồng phải là một truyền thống mang trong mình nhiều ý nghĩa tích cực. Nó sẽ là cái định hướng cho sự phát triển của dân tộc trong tương lai, đảm bảo cho một sự phát triển bền vững. Nhưng mặt khác, truyền thống cũng chính là nơi di dưỡng, tạo điều kiện cho những yếu tố lạc hậu, lỗi thời được phát triển, nó có thể làm chậm, thậm chí kìm hãm sự phát triển của cộng đồng dân tộc. Truyền thống về thực chất là cái nằm trong quan hệ giữa hiện tại với quá khứ để vươn tới tương lai.
Con người của hiện tại có thái độ như thế nào đối với truyền thống, xã hội hiện tại cần đến truyền thống ở mức độ nào, điều đó sẽ quy định giá trị của truyền thống. Tính hai mặt của truyền thống, xét đến cùng lại phụ thuộc phần lớn vào thái độ của chính chủ thể đang sử dụng và khai thác. Điều này giúp chúng ta nhận thức rằng trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế chúng ta cần phải phát huy truyền thống như thế nào để vừa tận dụng được tối đa những mặt tích cực và hạn chế tới mức có thể đối với những mặt tiêu cực của truyền thống.