CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. NGHỆ THUẬT MÚA RỐI 1. Khái niệm và nguồn gốc nghệ thuật múa rối Múa rối là một loại hình nghệ thuật sân khấu biến cách, chuyên sử dụng các hình mẫu giống như người, vật (các con giống, các tượng gỗ, các lốt giả trang.) làm trò trên sân khấu. Các công cụ nghệ thuật này vốn là sản phẩm của tạo hình và được gọi là quân rối, cơ sở diễn xuất của nó là trò diễn xướng dân gian.
Múa rối là một loại hình văn hoá truyền thống, gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần từ lâu đời của các dân tộc Việt Nam. Múa rối gồm có múa rối cạn và múa rối nước, múa rối truyền thống đạt đến trình độ nghệ thuật, có giá trị cao về mặt tinh thần là nguồn giải trí khá hấp dẫn và độc đáo của nhân dân Việt Nam. Đặc điểm của nghệ thuật múa rối Nghệ thuật múa rối có hai loại: Rối cạn và rối nước. Khác với các loại hình nghệ thuật khác, diễn viên biểu diễn trên sân khấu không phải là người mà là những con rối - sản phẩm của nghệ thuật tạo hình.
Vì vậy, người ta gọi nghệ thuật múa rối là nghệ thuật tạo hình không gian biểu cảm thông qua ngôn ngữ hành động của con rối và thu hút người xem bằng sự kỳ diệu do nghệ nhân tạo hình và nghệ nhân điều khiển. Rối cạn: bao gồm các loại: rối tay, rối que, rối máy, rối dây, rối bóng. Mỗi hình thức rối có những đặc điểm riêng, nhưng tựu chung lại là sự khéo léo của người nghệ sĩ điều khiển những con vật vô chi, vô giác thành những câu chuyện sống động mô tả cuộc sống xung quanh. Rối nước: Đặc điểm độc đáo của nghệ thuật rối nước là dùng nước làm sân khấu cho quân rối hoạt động.Con rối trong nghệ thuật rối nước làm bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ nổi trên mặt nước; phần thân rối là phần nổi lên mặt nước thể hiện nhân 10 vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động.
Buồng trò rối nước là nhà rối hay thủy đình thường được dựng lên giữa ao, hồ với kiến trúc cân đối tượng trưng cho mái đình của vùng nông thôn Việt Nam. Buồng trò, sân khấu được trang trí cờ, quạt, voi, lọng, cổng hàng mã. buổi diễn rất nhộn nhịp với lời ca, tiếng trống, tù và, chen tiếng pháo chuột, pháo thăng thiên, pháo mở cờ từ dưới nước lên, trong ánh sáng lung linh và màn khói huyền ảo. Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò, ngâm mình dưới nước để điều khiển con rối.
Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng kịch của người diễn. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động nghệ thuật múa rối Một vở rối hấp dẫn, thành công phải là sự thành công của các thành phần quan trọng: Kịch bản, đạo diễn, tạo hình, diễn viên và khán giả. Sự hụt hẫng, kém kết quả của một trong các thành phần trên đều kéo thấp kết quả của vở diễn. Nhiều khi dẫn đến sự đổ vỡ của vở diễn.
Kịch bản: Dân gian có câu “có tích mới dịch nên trò”, múa rối trước đây thường dựa vào tích để tạo ra những trò diễn, ví dụ như tích: Sơn tinh Thuỷ tinh, Tấm Cám, Thạch Sanh.Về kịch bản rối, tuy xuất hiện muộn hơn kỹ thuật và nghệ thuật điều khiển con rối, nhưng kịch bản rối đã dần dần trở thành một yếu tố quan trọng trong sân khấu rối ngày nay, nhất là trong việc phát triển rối để cho nghệ thuật này có khả năng thể hiện đề tài mới. Đạo diễn Là người chịu trách nhiệm chỉ đạo quá trình thực hiện một tác phẩm. Muốn cho ra đời một tác phẩm hay, người đạo diễn phải thể hiện được ý tưởng của kịch bản, rồi tiếp đến nữa là việc chắp nối giữa diễn viên, tạo hình, âm thanh, ánh sáng, phục trang, đạo cụ, thiết kế sân khấu cho nghệ thuật rối. Tạo hình: Là cơ sở “hạ tầng”, là “công cụ”, là đặc trưng, là yếu tố tạo thành của nghệ thuật múa rối.
Không có nghệ thuật tạo hình, không có con rối (dù ở hình thức nào) thì sẽ không có nghệ thuật múa rối. Con rối là công cụ, thay thế người diễn viên. Đã là công cụ, muốn có kết quả thì công cụ phải tốt, phải hoàn thiện. Diễn viên: Được coi trọng và khẳng định là trung tâm, là linh hồn của một đoàn nghệ thuật.
Nghệ thuật là bộ môn đào thải, nó khắc nghiệt, gian truân, vì vậy người nghệ sỹ luôn tâm niệm phải tự rèn luyện mình (tự tu) mặc dù mình thực sự có năng khiếu. Để phải tự khẳng định mình bằng các vai diễn trên sàn sân khấu với sự khám phá, sáng tạo thông minh. Khán giả: Là điều kiện sống còn của tác phẩm sân khấu nói chung và nghệ thuật rối nói riêng. Không có khán giả thì không có sân khấu và sân khấu thời nào cũng vậy, không thể tồn tại nếu không có khán giả.
Trong tác phẩm sân khấu vì thế dường như tồn tại một tam giác kiểu “3 ngôi”: Nhà viết kịch là tác giả thứ nhất của vở diễn. Nhà đạo diễn và cộng đồng diễn viên cùng các thành viên yểm trợ, đưa kịch bản văn học từ giấy trắng mực đen lên sàn diễn, là tác giả thứ hai. Khán giả, người thưởng thức vở diễn chính là tác giả thứ ba. Bởi thế, vở diễn là công trình sáng tạo cộng đồng và liên hoàn mang tính đặc thù của sân khấu.
Kịch bản hay, đạo diễn tốt, tạo hình đẹp và diễn viên chuyên nghiệp nhưng vẫn không hấp dẫn khán giả, không thu hút được khán giả. Như vậy, có thể khẳng định vở diễn đó không thành công.4 Vai trò và tầm quan trọng giữ gìn nghệ thuật sân khấu truyền thống Nền nghệ thuật biểu diễn của dân tộc gồm hai dòng: Nghệ thuật biểu diễn truyền thống và nghệ thuật biểu diễn đương đại.Công việc bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền 12 thống rất quan trọng, bởi các thể loại, các tác phẩm của nghệ thuật biểu diễn truyền thống luôn thể hiện rõ nét nhất bản sắc văn hóa dân tộc, là tài sản vô giá của các thế hệ tiền nhân để lại cho thế hệ sau và cũng là tài sản có tiềm năng kinh tế nhất cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Trong quá trình toàn cầu hóa, các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống luôn đứng trước những thách thức to lớn, dễ bị tổn thương, mất mát. Sự ùa vào Việt Nam của những dòng văn hóa, nghệ thuật không phải không có những yếu tố không lành mạnh khi chúng ta mở cửa, hội nhập với thế giới bên ngoài.
Cũng trong bối cảnh toàn cầu hoá, sự bùng nổ của công nghệ thông tin đặt ra những thời cơ nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho công cuộc bảo tồn nghệ thuật biểu diễn truyền thống của 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Chiến lược “Chiến lược” là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Strategos” dùng trong quân sự, theo Calr Von Claưzevit, thế kỷ 19 “lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến”. Từ thập kỷ 60, thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ "Chiến lược kinh doanh" ra đời.
Quan niệm về chiến lược kinh doanh phát triển dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. Năm 1962, Chandler định nghĩa chiến lược như là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này” (Chandler, A. Strategy and Structure. Đến những năm 1980, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ” (Quinn, J.
Strategies for Change: Logical Incrementalism. Homewood, Illinois, 13 Irwin). Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hữu quan” (Johnson, G. Exploring Corporate Strategy, 5th Ed.
Prentice Hall Europe). Ngoài cách tiếp cận kiểu truyền thống như trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách mới: Chiến lược kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực, tài sản và tài chính nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Kenneth Andrews là người đầu tiên đưa ra các ý tưởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển "The Concept of Corporate Strategy". Theo ông, chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa.
Brace Henderson, chiến lược gia đồng thời là nhà sáng lập Tập đoàn Tư vấn Boston đã kết nối khái niệm chiến lược với lợi thế cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh là việc đặt một Công ty vào vị thế tốt hơn đối thủ để tạo ra giá trị về kinh tế cho khách hàng. "Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn".
Ông tin rằng không thể cùng tồn tại hai đối thủ cạnh tranh nếu cách kinh doanh của họ giống hệt nhau. Cần phải tạo ra sự khác biệt mới có thể tồn tại. Michael Porter cũng tán đồng nhận định của Henderson: "Chiến lược kinh doanh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo".
Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong khu vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: 14 - Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp. - Đưa ra các chương trình hành động tổng quát.