LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đất nước ta đang trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, chủ trương, định hướng của Đảng ta là xây dựng CP trong sạch, vững mạnh, liêm chính, lấy lợi ích quốc gia và phục vụ nhân dân làm mục tiêu cao nhất, đó là nhiệm vụ đặt ra cho các bộ, ngành, địa phương hết sức cấp thiết. Để thực hiện được điều này thì vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là vô cùng quan trọng. Chính vì lẽ đó mà Đảng và Nhà nước luôn quan tâm tới nhiệm vụ xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhằm khắc phục những yếu kém về trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, năng lực thực thi công vụ, phẩm chất chính trị, đạo đức, ý thức chấp hành kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân và nhiệm vụ đó đã được Đảng ta triển khai xuyên suốt qua nhiều nhiệm kỳ đại hội.
Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX năm 2001, Đảng đã chủ trương đẩy mạnh đồng bộ cải cách hành chính. Đến Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ XII năm 2016, Đảng xác định “tiếp tục đổi mới, kiện toàn bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”. Thực hiện chủ trương, định hướng của Đảng, Bộ Xây dựng đã và đang chủ trì, triển khai đề án Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành Xây dựng được Chính phủ phê duyệt, đồng thời giao cho Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị thực hiện đã xác định: Phát triển nhân lực ngành Xây dựng đến năm 2020 “Tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo với cơ cấu hợp lý, gắn việc đào tạo với nhiệm vụ cụ thể của ngành Xây dựng, trong đó lấy đào tạo các bậc học đại học, trung học chuyên nghiệp làm nền tảng; lấy đào tạo nghề, đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao, đào tạo nghề chuyên biệt, nghề đặc thù, nghề có lợi thế so sánh làm khâu đột phá; lấy việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán 2 bộ quản lý, công chức, viên chức toàn ngành là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành Xây dựng”. Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị là đơn vị sự nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Xây dựng, thực hiện các chức năng: Tổ chức đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức ngành Xây dựng, cán bộ chính quyền đô thị các cấp, cán bộ, công chức, viên chức thuộc các Bộ, Ngành khác tham gia quản lý và hoạt động xây dựng và các chức danh khác theo quy định của pháp luật.
Từ năm 2015, Học viện đã tiến hành phương án tổ chức, sắp xếp, rút gọn đầu mối số đơn vị trực thuộc nhằm nâng cao trình độ chuyên môn hóa, đẩy mạnh liên kết đào tạo có hiệu quả với các đơn vị trong nước, phục vụ kịp thời yêu cầu đào tạo nhân lực, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản lý cho nguồn cán bộ ngành Xây dựng. Đặc biệt, để đáp ứng được yêu cầu phát triển và hội nhập, Học viện liên tục đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo bồi dưỡng với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều này cũng có nghĩa là Học viện cần một đội ngũ viên chức đủ năng lực để đáp ứng được yêu cầu phát triển của Học viện. Nhưng hiện tại, đội ngũ viên chức của Học viện còn có những bất cập về cơ cấu, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực hiện công việc, thái độ, hành vi và tư tưởng đạo đức của mỗi viên chức.
Điều đó đã, đang và sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao. Vì lẽ đó, việc tìm ra những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức của Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị trước yêu cầu thực tiễn là mục tiêu, nhiệm vụ cấp bách và thiết thực trong giai đoạn hiện nay. Với mong muốn góp phần để Học viện thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ nhiệm vụ trên, tác giả đã lựa chọn Đề tài “Nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức tại Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị” dựa vào cơ sở các quan điểm lý luận, tổng kết thực tiễn và kế thừa kết quả của nhiều công trình đi trước của các tác giả làm căn cứ khoa học đưa ra các tiêu chí, nhân tố ảnh hưởng đến đội ngũ viên chức, qua đó xác định các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức Học viện, 3 đáp ứng yêu cầu của các đơn vị sự nghiệp thuộc khối đào tạo bồi dưỡng ngành trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.Tổng quan nghiên cứu 2. Các công trình nghiên cứu liên quan liên quan đến đề tài Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung hay đội ngũ công chức, viên chức nói riêng là một đề tài có lĩnh vực nghiên cứu rộng và được tiếp cận dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Các đề tài thuộc lĩnh vực này thường được nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu các hệ thống lý luận về chất lượng của đội ngũ này để từ đó đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng. Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu cấp Bộ, luận án tiến sỹ cứu về nguồn nhân lực hay đội ngũ công chức, viên chức dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Võ Kim Sơn và cộng sự (2004), “Đội ngũ công chức, viên chức, bao gồm những người đang làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước, sự nghiệp, xét trong mối quan hệ với NNL, là bộ phận cấu thành của NNL của tổ chức công và là tập con của hệ thống NNL xã hội”. Với đặc điểm này, những tiêu chí phản ánh chất lượng NNL cũng cơ bản phản ánh CLĐNVC.
Nghiên cứu về chất lượng NNL, trong công trình “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” Đoàn Văn Khái (2005) đã tập trung nghiên cứu về khái niệm, vai trò của nguồn lực con người, thực trạng nguồn lực con người Việt Nam trong quá trình CNH, HĐH với quan điểm: “Chất lượng nguồn nhân lực con người giữ vai trò quyết định sức mạnh của nguồn lực con người, nó bao gồm nhiều yếu tố như: sức khỏe, mức sống, trình độ giáo dục, đào tạo về văn hoá và chuyên môn nghề nghiệp, trình độ học vấn, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng, kỹ năng lao động, văn hoá lao động, đạo đức, tâm lý, tư tưởng, tình cảm, tính cách, lối sống… song khái quát lại chất lượng nguồn lực con người được đặc trưng bởi chất lượng của từng cá nhân con người biểu hiện qua thể lực, trí lực, phẩm chất đạo đức, tình thần và hiệu quả hoạt động của con người”. Nghiên cứu đã đề cập đến nội hàm chất lượng NNL, bao gồm các yếu tố thể lực, trí 4 lực và phẩm chất đạo đức, tinh thần nhưng chưa đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL. Trong công trình nghiên cứu “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội”, Bùi Văn Nhơn (2006) đã đưa ra khái niệm về chất lượng NNL: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực”.
Trong đó, yếu tố tinh thần được đánh giá thông qua những phẩm chất của con người như tính kỷ luật, tính tự giác, tinh thần hợp tác, tinh thần trách nhiệm, tác phong công nghiệp; yếu tố thể lực thể hiện qua sức khoẻ cơ thể, thể hiện năng lực lao động chân tay và sự dẻo dai của hoạt động thần kinh; yếu tố trí lực được xem xét, đánh giá trên hai giác độ là trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động. Như vậy, ở công trình nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra khái niệm về chất lượng NNL với những đặc trưng cơ bản tương; những yếu tố cấu thành chất lượng NNL được nêu chi tiết hơn qua một số tiêu chí cụ thể, tuy nhiên, các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng NNL chưa được đề cập, đây cũng là điểm hạn chế của công trình. Nghiên cứu về NNL phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động, Bùi Sỹ Tuấn (2012) đã đưa ra khái niệm, tiêu chí đánh giá, nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động. Theo đó “Chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, bao gồm: Yếu tố về thể lực; yếu tố về giáo dục, đào tạo; yếu tố về ý thức xã hội”.
Quan điểm của Bùi Sỹ Tuấn thì các tiêu chí đánh giá bao gồm: Chiều cao, cân nặng; kỹ năng sống, hiểu biết xã hội; kỹ năng nghề; trình độ học vấn; trình độ ngoại ngữ; kỹ năng xử lý tình huống; khả năng làm việc độc lập; khả năng làm việc theo nhóm; ý thức tổ chức kỷ luật và hiểu biết, chấp hành pháp luật. Về nhân tố ảnh hưởng, theo Bùi Sỹ Tuấn bao gồm: Công tác tuyển chọn; trình độ phát triển của giáo dục, đào tạo; thể chế, chính sách của nhà nước; văn hóa nghề 5 của người lao động; vấn đề về y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng; trình độ phát triển của kinh tế địa phương; vị trí địa lý nơi người lao động cư trú. Những quan điểm về chất lượng NNL của những nghiên cứu trên đây phù hợp với lý thuyết về mô hình năng lực (mô hình KSA) theo trường phái của Anh, năng lực là tổ hợp 3 yếu tố: Kiến thức (knowledge), kỹ năng (skills) và thái độ (attitude) cần có để hoàn thành tốt một vai trò hoặc một công việc. Mô hình này do Benjamin Bloom (1956) khởi xướng và được áp dụng rất phổ biến.