Chương 1 Cơ sở lý luận về nâng cao ch t lư ng đội ngũ công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa Chương 2 Thực trạng ch t lư ng đội ngũ công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa ở tỉnh Hà Tĩnh Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao ch t lư ng đội ngũ công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa ở tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn hiện nay. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TRÊN LĨNH VỰC VĂN HÓA 1. Khái niệm công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa và những yếu tố tác động đến chất lƣợng đội ngũ công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa 1 1 1 Khái niệm công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa Thuật ngữ công chức xuất hiện lần đầu tiên ở các nước tư bản phương Tây. Vào khoảng giữa những năm nửa cuối thế kỷ XIX, tại nhiều nước phương Tây đã thực hiện chế độ công chức.
Ngày nay, khái niệm công chức được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan, tổ chức nhà nước ở trung ương hay ở địa phương. Nội dung khái niệm phụ thuộc vào đặc điểm chính trị, KT - XH của từng giai đoạn lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia. * Khái niệm công chức, viên chức: - Khái niệm công chức: Theo vi.wikipedia định nghĩa: CC theo nghĩa chung là nhân viên trong cơ quan nhà nước, đó là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh trong các cơ quan nhà nước (trong đó tập trung vào các cơ quan hành chính) để thực thi hoạt động công vụ và được hưởng lương và các khoản thu nhập từ ngân sách nhà nước. CC của một quốc gia thường là công dân, người có quốc tịch của nước sở tại và thường nằm trong biên chế.
Phạm vi làm việc của CC là các cơ quan nhà nước, tuy nhiên pháp luật nhiều nước quy định công chức có thể làm việc không chỉ trong cơ quan nhà nước. Định nghĩa này bao quát được điều kiện để trở thành CC là: + Những người do bầu cử để đảm nhận chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội ở TW, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quân đội nhân dân mà không phải là hạ sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp; những nguời được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực HĐND, Bí thư, Phó Bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội xã, phường thị trấn; những người được tuyển dụng giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã. Ở Việt Nam, khái niệm CC lần đầu tiên được quy định tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành. Tuy nhiên, Sắc lệnh này ra đời trong điều kiện chiến tranh, do đó, những nội dung quy định tại văn bản này không được thực hiện đầy đủ và không được áp dụng rộng rãi.
Trước yêu cầu phải kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ CC, VC và đặc biệt là để phân biệt rạch ròi giữa CC và VC, ngày 26/12/1998 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức bao gồm 7 Chương, 48 Điều. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, Quốc hội, Chính phủ nhận thấy những bất cập của Pháp lệnh cần phải có sự điều chỉnh, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Do đó đã tiến hành sửa đổi, bổ sung: Lần thứ nhất sửa đổi vào ngày 28/4/2000 và lần thứ 2 sửa vào ngày 29/4/2003. Đến năm 2008, BCH TW Đảng, Quốc hội đã yêu cầu Chính phủ xây dựng và trình Quốc hội thông qua Luật Cán bộ, Công chức.
Năm 2008, Luật Cán bộ, Công chức đã được ban hành. Tại Luật này thì công chức được quy định là những đối tượng sau: + Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở TW, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực HĐND, UBND, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức CT - XH; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. - Khái niệm Viên chức: Năm 2010, Luật Viên chức đã được ban hành.
Tại Luật này thì VC được định nghĩa như sau: + VC là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, được hưởng lương từ quỹ của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Lao động của VC không mang tính quyền lực công mà chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ. + VC được tuyển dụng theo hợp đồng lao động làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý (trừ các chức vụ quy định là công chức). VC là người thực hiện các công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về năng lực chuyên môn, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
- Phân biệt công chức, viên chức Thời kỳ trước đây nước ta không phân biệt CB, CC, CV mà nhập chung vào một nhóm là “cán bộ, công chức, viên chức”. Khái niệm CB, CC, CV bắt đầu được đề cập, quan tâm từ năm 1991. Tuy nhiên đến năm 1998 chúng ta mới có Pháp lệnh Cán bộ, Công chức. Sau đó, đến năm 2008 Luật Cán bộ, Công chức được ban hành, có hiệu lực từ 1.2010 và Luật Viên chức cũng được ban hành vào năm 2010.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân biệt công chức, viên chức Công chức Viên chức - Vận hành quyền lực nhà nước, làm - Thực hiện chức năng xã hội, trực nhiệm vụ quản lý. tiếp thực hiện nghiệp vụ. - Hình thức tuyển dụng: thi tuyển, bổ - Hình thức tuyển dụng: xét tuyển, ký nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà hợp đồng làm việc.
nước có thẩm quyền thuộc biên chế. - Lương: hưởng lương từ ngân sách - Lương: một phần từ ngân sách, còn nhà nước, theo ngạch bậc. lại là nguồn thu sự nghiệp. - Nơi làm việc: cơ quan nhà nước, tổ - Nơi làm việc: đơn vị sự nghiệp và chức chính trị - xã hội đơn vị sự nghiệp của tổ chức xã hội * Khái niệm CC, VC trên lĩnh vực văn hóa: Công tác QLNN về văn hóa và các hoạt động văn hóa có vai trò rất quan trọng, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi Đảng và Nhà nước xác định văn hóa là nền tảng của sự phát triển đất nước.
Hoạt động trên lĩnh vực văn hóa là hoạt động nền tảng và mang nhiều giá trị nhân văn để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất của nhà nước trong quản lý xã hội. Trên cơ sở khái niệm hoạt động văn hóa và khái niệm CC, VC, có thể hiểu CC, VC trên lĩnh vực văn hóa là những người hoạt động thực thi quyền hành của nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, đó là sự tác động có tổ chức có mục đích và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật đối với hành vi hoạt động của con người và các quá trình xã hội trên lĩnh vực văn hóa. Căn cứ khái niệm về CC được quy định tại Điều I Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 và vận dụng khái niệm này vào trường hợp cụ thể thì công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa là những người hoạt động trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ TW đến địa phương đảm nhiệm chức năng quản lý, điều hành, thực thi các vấn đề về văn hóa, bao gồm: + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong ngành văn hóa ở TW, cấp tỉnh, cấp huyện. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước thuộc ngành văn hóa ở TW, cấp tỉnh, cấp huyện.
+ Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch CC, VC hoặc giao giữ nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của ngành văn hóa. + Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, phường, thị trấn. Đánh giá ch t lư ng đội ngũ công chức, viên chức trên lĩnh vực văn hóa Xét về phẩm chất đạo đức, theo Điều 15, Luật Cán bộ công chức quy định: CB phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ. Tại Điều 10 của Luật Viên chức cũng đã nêu: Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ VC có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.