MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đất nƣớc ta đang trong thời kỳ đổi mới, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, toàn bộ đội ngũ công chức trong bộ máy hành chính nhà nƣớc tạo thành một nguồn lực lớn phục vụ cho quá trình tổ chức và hoạt động của Nhà nƣớc. Nguồn nhân lực này có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc quản lý và thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ xã hội và bảo đảm nền hành chính quốc gia hoạt động liên tục. Hiệu lực của hệ thống chính trị nói chung và của bộ máy hành chính Nhà nƣớc nói riêng, xét cho cùng đƣợc quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả của đội ngũ công chức.
Mục tiêu của Chƣơng trình Cải cách hành chính 10 năm (2011- 2020) là “xây dựng một nền hành chính phục vụ trong sạch, minh bạch, vững mạnh, chuyên nghiệp và hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả”. Theo đó, một trong những nhiệm vụ của Chính phủ nhiệm kỳ 2011- 2016 là đổi mới tổ chức bộ máy và phƣơng thức hoạt động của hệ thống chính trị, trọng tâm là cải cách hành chính, xây dựng bộ máy Nhà nƣớc trong sạch, vững mạnh. Để đạt đƣợc những điều đó thì yếu tố con ngƣời phải đƣợc đặt lên hàng đầu, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nƣớc. Do vậy việc nghiên cứu đánh giá khoa học về đội ngũ công chức quản lý nhà nƣớc và chất lƣợng đội ngũ công chức quản lý nhà nƣớc có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở góp phần giúp cho Đảng và Nhà nƣớc có chiến lƣợc trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của đất nƣớc.
Thực tế cho thấy, đội ngũ công chức hành chính hiện nay chƣa thực sự ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhƣng một trong những nguyên nhân chính là do những bất cập trong việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo đội ngũ công chức. Đặc biệt đối với một cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về các vấn đề lao động, việc làm, dạy nghề, chính sách xã hội nhƣ Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội thì việc nhanh chóng xây dựng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ công 2 chức hành chính (CCHC) là một trong những yêu cầu quan trọng cần hƣớng đến trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, học viên chọn đề tài: “Nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức hành chính Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội” làm luâ ̣n văn nghiên cứu.
Tổng quan các công trình nghiên cứu Một số công trình nghiên cứu và đề tài có liên quan đến đội ngũ công chức ở nƣớc ta nhƣ: - Nguyễn Bắc Son (2000), Luận văn thạc sỹ kinh tế, “Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhà nước đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH đất nước”. - Trần Thanh Nga (2005), Luận văn thạc sỹ kinh tế, “Nâng cao chất lượng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức Ngân hàng Nhà nước trong giai đoạn hiện nay”. Từ các nghiên cứu trên cho thấy: - Các đề tài nghiên cứu về công chức và chất lƣợng công chức thƣờng nghiêng về cách tiếp cận theo nền hành chính nhà nƣớc (HCNN), dựa trên quan điểm của quản lý HCNN, ít tiếp cận theo hƣớng khoa học về quản trị nguồn nhân lực. - Các đề tài thƣờng tập trung phân tích đánh giá về công chức nhà nƣớc nói chung, ít đi sâu vào công chức HCNN ở một đơn vị cụ thể.
- Các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trên phạm vi khá rộng hoặc chỉ nghiên cứu một số khâu của công tác xây dựng đội ngũ công chức. Đến nay, chƣa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể vể chất lƣợng đội ngũ CCHC ở Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội. Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC ở Bộ Lao động. Mục đích nghiên cứu - Làm rõ cơ sở khoa học của việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC ở Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội.
- Phân tích, đánh giá thực trạng chất lƣợng đội ngũ CCHC của Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội. Từ đó tìm ra những ƣu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân. 3 - Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội, đáp ứng đƣợc yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: Những nội dung về nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức hành chính.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cƣ́u ta ̣i Cơ quan Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội (số 12 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội) tƣ̀ năm 2008 – 2012. Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp quan sát, phƣơng pháp thống kê, phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp so sánh. Phương pháp thu thập thông tin - Thông tin thƣ́ cấ p : Các tài liệu, báo cáo của Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội. - Thông tin sơ cấ p : Thông tin và số liệu thu đƣợc qua điều tra bằng bảng hỏi tại Văn phòng Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội (số 12 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội).
Đối tƣợng khảo sát: công chức hành chính. Số lƣợng phiếu khảo sát: phát ra 150 phiếu, thu về 135 phiếu, số phiếu hợp lệ 120 phiếu. Những đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn Về phƣơng diện lý luận: Hệ thống hóa lý luận về đội ngũ công chức, công chức HCNN; làm rõ các vấn đề liên quan tới nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức HCNN. Về phƣơng diện thực tiễn: Qua phân tích, đánh giá thực trạng, rút ra những mặt mạnh, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng.
Từ đó, làm tiền đề để xây dựng, nâng cao chất lƣợng đội ngũ CCHC Bộ Lao động – Thƣơng binh và xã hội. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: 4 Chương 1: Những lý luận cơ bản về CCHC và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính Chương 2: Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ công chức hành chính Bộ Lao động – Thương binh và xã hội Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính Bộ Lao động – Thương binh và xã hội trong giai đoạn tới 5 CHƢƠNG I: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH VÀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HÀNH CHÍNH 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại công chức hành chính 1.1 Công chức Công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do ngân sách nhà nƣớc trả lƣơng. Khái niệm công chức mang tính lịch sử, bản chất của nó phụ thuộc vào tính chất đặc thù về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa của mỗi quốc gia cũng nhƣ từng giai đoạn lịch sử cụ thể của chính mỗi nƣớc. Do đó, trong thực tế rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia, thậm chí ngay trong một quốc gia, ở từng thời kỳ phát triển khác nhau, thuật ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau.
Có nƣớc chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những ngƣời tham gia các hoạt động quản lý nhà nƣớc ở trung ƣơng và địa phƣơng hay chỉ có ở các cơ quan nhà nƣớc trung ƣơng. Một số quốc gia có quan niệm rộng hơn, coi công chức không chỉ bao gồm những ngƣời trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức dịch vụ công. Ở Trung Quốc: Khái niệm công chức nhà nƣớc đƣợc dùng để chỉ những ngƣời làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở các cấp Trung ƣơng và địa phƣơng, trừ nhân viên làm phục vụ, tạp vụ. Ở Pháp: Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nƣớc tổ chức, bao gồm cả trung ƣơng và địa phƣơng nhƣng không kể đến các công chức địa phƣơng thuộc các hội đồng thuộc địa phƣơng quản lý.
6 Ở Đức: Khái niệm công chức cũng rất rộng, bao gồm toàn bộ nhân viên làm việc trong các cơ quan, tổ chức văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do nhà nƣớc quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan Chính phủ. Từ những khái niệm về công chức của một số nƣớc nhƣ trên, có thể thấy: không có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các nƣớc. Tuy nhiên, nội hàm cơ bản của khái niệm công chức đều đƣợc các quốc gia đề cập: - Là những ngƣời đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm làm một công việc thƣờng xuyên trong một công sở của nhà nƣớc; - Đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của Nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa 9/1945 và có nhiều biến động cùng với tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc (1945 - 1975) và phát triển trong quá trình xây dựng, đổi mới đất nƣớc (từ 1976 đến nay) và phát triển nền hành chính nhà nƣớc trong thời kỳ mới (từ 1986).
Khái niệm công chức Việt Nam đã bắt đầu rất sớm - từ sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa về Quy chế công chức. Theo Quy chế này phạm vi công chức rất hẹp, chỉ những ngƣời đƣợc tuyển dụng giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan Chính phủ - tức chỉ công chức hành chính nhà nƣớc hiện nay. Thời kỳ 1960 - 1980, khái niệm công chức ít đƣợc sử dụng mà thay bằng khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nƣớc, không phân biệt công chức, viên chức, công nhân viên.