phần mở đầu, Luận văn gồm 4 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận của phân tích và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp. Phần 2: Phân tích hiện trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh. Phần 3: Một số đề xuất, giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Ninh. Phần 4: Kết luận.
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ tận tình của PGS. Đỗ Văn Phức và các thầy cô giáo, các đồng chí lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Công nghiệp Bắc Ninh và đồng nghiệp trong địa bàn tỉnh. Hy vọng rằng Luận văn sẽ có sự đóng góp tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất công nghiệp của tỉnh trong thực tiễn, nhằm đáp ứng các phương hướng, mục tiêu, yêu cầu của sản xuất công nghiệp của tỉnh trong giai đoạn 2004 – 2015. -9- PHẦN 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP 1.
Các đặc đi ểm của sản xuất công nghiệp Công nghiệp là ngành kinh tế thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất – một bộ phận cấu thành nền sản xuất vật chất của xã hội. Công nghiệp bao gồm ba loại hoạt động chủ yếu: - Khai thác tài nguyên thiên nhiên tạo ra nguồn nguyên liệu nguyên thuỷ; - Sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội; - Khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt. Để thực hiện được ba hoạt động cơ bản đó, dưới sự tác động của phân công lao động xã hội trên cơ sở của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, trong nền kinh tế quốc dân hình thành hệ thống các ngành công nghiệp: - Khai thác tài nguyên khoáng sản, động, thực vật; - Các ngành sản xuất và chế biến sản phẩm; - Và các ngành công nghiệp dịch vụ sửa chữa. Hoạt động khai thác là hoạt động khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp.
Tính chất tác động của loại hoạt động này là cắt đứt các đối tượng lao động ra khỏi môi trường tự nhiên. Chế biến là hoạt động làm thay đổi hoàn toàn về chất của các nguyên liệu nguyên thuỷ, để tạo ra các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến thành sản phẩm cuối cùng đưa vào tiêu dùng trong sản xuất và tiêu dùng trong đời sống. Quá trình chế biến từ một loại nguyên liệu có thể tạo ra được một loại sản phẩm tương ứng; -10- và cũng có thể một loại sản phẩm nào đó được tạo ra từ những loại nguyên liệu khác nhau. Sản phẩm trung gian là các sản phẩm được coi là nguyên liệu cho quá trình sản xuất công nghiệp tiếp theo.
Sản phẩm cuối cùng là các sản phẩm đã ra khỏi quá trình sản xuất công nghiệp để đưa vào sử dụng trong sản xuất hoặc tiêu dùng trong đời sống. Sửa chữa là một hoạt động không thể thiếu được nhằm khôi phục, kéo dài tuổi thọ của các tư liệu lao động trong các ngành sản xuất và kéo dài thời gian sử dụng của các sản phẩm dùng trong đời sống. Công nghiệp sửa chữa là hình thức có sau so với công nghiệp khai thác và chế biến. Lúc đầu các hoạt động này được thực hiện ngay trong các ngành công nghiệp khai thác, chế biến và trong đời sống sinh hoạt của dân cư, do lực lượng lao động chính trong các ngành và lĩnh vực đó thực hiện.
Sau đó, do sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật trong các ngành sản xuất, dịch vụ, do sự phát triển đa dạng hoá của sản phẩm tiêu dùng trong sinh hoạt, hoạt động sửa chữa được tách thành một ngành chuyên môn hoá thực hiện dịch vụ sửa chữa có tính chất xã hội. Từ những nội dung trên, có thể hiểu công nghiệp là một ngành kinh tế lớn thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, bao gồm một hệ thống các ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp, mỗi ngành sản xuất chuyên môn hoá hẹp đó lại bao gồm nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc nhiều loại hình khác nhau. Một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý ngành công nghiệp là tổ chức, sắp xếp hoạt động sản xuất công nghiệp thành các lĩnh vực, các loại hình sở hữu và thành các ngành có đặc trưng chuyên môn hoá, để hình thành các đối tượng quản lý có đặc trưng khác nhau, từ đó tổ chức hợp lý và có hiệu quả quá trình chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý. Để thực hiện được điều đó, cần phải có các phương pháp phân loại sản xuất dựa trên những căn cứ khoa học nhất định.
Trong các hoạt động quản lý công nghiệp thường được thực hiện một số phương pháp chủ yếu sau đây để phân loại công nghiệp: -11- - Phân loại công nghiệp thành hai ngành sản xuất tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng: Căn cứ vào công dụng kinh tế của sản phẩm người ta chia công nghiệp thành các ngành sản xuất tư liệu sản xuất (nhóm A) và các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng (nhóm B). Ngoài ra, người ta còn sắp xếp các cơ sở sản xuất công nghiệp vào hai nhóm ngành tương ứng là ngành công nghiệp nặng (sản phẩm chính là tư liệu sản xuất) và công nghiệp nhẹ (tư liệu tiêu dùng). Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong việc vận dụng quy luật tái sản xuất mở rộng để xây dựng mô hình cơ cấu công nghiệp phù hợp cho mỗi nước, trong mỗi thời kỳ phát triển của nền kinh tế. - Phân loại công nghiệp thành hai nhóm ngành: khai thác và chế biến Căn cứ chủ yếu của sự phân loại này là tính chất khác nhau của sự biến đổi đối tượng lao động, do sự tác động của lao động và công dụng sản phẩm của hai loại hoạt động trên.
Công nghiệp khai thác có nhiệm vụ cắt đứt đối tượng lao động ra khỏi môi trường tự nhiên, tạo thành các loại nguyên liệu nguyên thuỷ, công nghiệp chế biến làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu nguyên thuỷ thành các sản phẩm trung gian và tiếp tục chế biến thành các loại sản phẩm cuối cùng. Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn đối với việc thực hiện cân đối trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, cân đối giữa khai thác tài nguyên và chế biến tài nguyên trong nền kinh tế của mỗi quốc gia. - Phân loại công nghiệp thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá hẹp Phương pháp phân loại này được dựa vào các đặc trưng kỹ thuật sản xuất giống nhau hoặc tương tự nhau để sắp xếp các đơn vị sản xuất kinh doanh thành các ngành công nghiệp chuyên môn hoá. -12- Ngành công nghiệp chuyên môn hoá là tổng hợp các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp mà hoạt động sản xuất chủ yếu của chúng có những đặc điểm kỹ thuật sản xuất giống nhau hoặc tương tự nhau: + Cùng thực hiện một phương pháp công nghệ hoặc công nghệ tương tự (cơ, lý, hoá hoặc sinh học).
+ Sản phẩm được sản xuất từ một loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại. + Sản phẩm có công dụng cụ thể giống nhau hoặc tương tự nhau. Trong ba đặc điểm trên, đặc điểm về công dụng cụ thể là đặc điểm quan trọng nhất. Phương pháp phân loại này có ý nghĩa rất lớn trong xây dựng các mô hình cơ cấu cân đối liên ngành, đặc biệt đối với các sản phẩm chủ yếu, quan trọng của công nghiệp, trong việc lựa chọn các hình thức tổ chức mối liên hệ sản xuất giữa các ngành.
- Phân loại công nghiệp dựa vào sự khác nhau về quan hệ sở hữu, hình thức tổ chức sản xuất xã hội và trình độ kỹ thuật của sản xuất công nghiệp. Theo các phương pháp này, hình thành các loại hình công nghiệp như: công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh với các loại hình sở hữu khác nhau: công nghiệp lớn, vừa và nhỏ, thủ công nghiệp… Các phương pháp phân loại này có ý nghĩa lớn trong việc hoạch định các giải pháp xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, trong việc tổ chức sản xuất và đầu tư vào việc ứng dụng khoa học và công nghệ trong công nghiệp. Hệ thống Phân ngành công nghiệp trong Bảng phân ngành kinh tế quốc dân (ISIC) -13- Việc phân ngành kinh tế quốc dân dựa trên nguyên tắc xuất phát từ đặc điểm phân công lao động xã hội, biểu hiện sự khác nhau về quy trình công nghệ của các hoạt động kinh tế để tạo ra sản phẩm và dịch vụ. Ở nước ta, ngày 27/10/1993, Chính phủ đã ra Nghị định số 75/CP ban hành hệ thống ngành kinh tế quốc dân bao gồm 20 ngành cấp I.
Nghị định này được Tổng cục Thống kê cụ thể hoá thành các ngành cấp II, III và IV. Từ năm 1994, Việt Nam áp dụng hệ thống phân ngành kinh tế quốc dân theo chuẩn quốc tế (ISIC), theo đó, ngành công nghiệp được phân chia thành 3 ngành cấp I ký hiệu là C, D và E; 30 ngành cấp II, 75 ngành cấp III và 143 ngành cấp IV: * Ngành công nghiệp khai thác mỏ (C)- (từ ngành 10-14) Bao gồm 5 ngành cấp II, 10 ngành cấp III và 12 ngành cấp IV. Ngành công nghiệp khai thác mỏ gồm các hoạt động sau: - Khai thác các chất có sẵn trong thiên nhiên gồm: các chất rắn như than đá, quặng kim loại đen, quặng kim loại màu, đá, cát, sỏi, cao lanh, khai thác muối mỏ. Các chất ở dạng lỏng như: dầu thô.
Các chất ở dạng khí như khí tự nhiên. Khai thác bằng hầm lò lộ thiên hay giếng ngầm. - Các hoạt động phụ trợ được thực hiện gắn liền với hoạt động chính trong một mỏ khai thác như xay, nghiền, mài, đánh bóng, làm sạch, tuyển chọn và làm giàu khoáng vật mà không làm thay đổi thành phần hóa học của quặng. - Hoạt động thu gom than cứng, than non và than bùn.
- Sản xuất than bánh hoặc nhiên liệu rắn có chứa than cứng, than non, than bùn. * Ngành công nghiệp chế biến (D)- (từ ngành 15 đến 37). Ngành công nghiệp chế biến gồm các hoạt động làm thay đổi về mặt lý, hoá học của vật liệu hoặc làm thay đổi các thành phần cấu thành của nguyên vật liệu, bán thành phẩm thành các sản phẩm mới.